Các chiều kích của ‘chiếc nôi công cuộc saledieng’ trong quy chế
Được khởi xướng từ các nữ tu FMA tại Torino vào 1876, việc mở một nguyện xá ngày lễ trở thành điều kiện rõ ràng để chấp nhận các công cuộc và nó được bảo vệ với tất cả sức lực, hoặc đôi khi bị bách hại trong nhiều năm. Người ta chỉ nhận biết về thời gian rảnh rỗi ngoài những công việc nội trợ của người trẻ nữ cách tiệm tiến, mà trong ánh nhìn của người Salêdiêng nó bao gồm kinh nguyện, tình bạn, việc giải trí lành mạnh, thực hành các hoạt động hữu ích, làm việc tông đồ.54 Bản quy chế dành cho các nguyện xá ngày lễ vào 1895,55 được gồm tóm trong một bộ thu tập về các điều lệ Salêdiêng được gửi đến cho các Giám Mục và các cha xứ của toàn nước Ý vào năm 1896, để quảng bá mô hình Salêdiêng.56
Bản quy luật đã dự liệu những đề xuất về nữ giới mà không cần thiết phải lệ thuộc vào sự hướng dẫn của các nữ tu. Ta hãy xem bản quy luật của Hội dòng “Nữ tử Thánh Tâm Chúa Giêsu”.57
Các ân nhân hay các chủ xưởng có nhiệm vụ thăm viếng nguyện xá, khích lệ các thanh thiếu nữ thường xuyên đến tham gia, cũng như “liên lạc với trường học hay với các chủ xưởng giúp cho những em bị thất nghiệp, cách đặc biệt, những em nghèo hay bị bỏ rơi; và có sự cảnh tỉnh trong ý thức rằng học sinh ở nguyện xá không được ở với các ông chủ hay những thày giáo có thể làm nguy hại đến linh hồn. Trong thỏa ước với các ông bà chủ hay các thày cô giáo, luôn đề ra điều kiện đầu tiên đó là để những người trẻ có được sự tự do để thánh hóa những ngày nghỉ của các em”.58 Mục đích của việc thánh hóa này được ghi nhận vào trong mục đích phổ quát của việc giáo dục ki-tô giáo và sự cứu rỗi của các em thiếu nhi từ 6 tuổi,59 với sự ưu tiên dành cho những em bị bỏ rơi và không được biết đến.60
Những Hội nghị Salêdiêng đã nhận thức được giá trị của việc dự phòng và xã hội trong công cuộc chính yếu của Don Bosco. Don Rua, Don Albera và Don Rinaldi đã quan tâm cùng nâng đỡ chúng.61 Vào chính những năm ấy có thể nhận ra rằng có những trung tâm vui chơi giải trí được Hội Tam điểm đỡ đầu và sau đó ít lâu là Xã hội Chủ nghĩa, đối thủ cạnh tranh trực tiếp với những người Công giáo, cũng vì thế, đã làm gia tăng sự lạm dụng trẻ em, sự loại trừ và nạn mại dâm kể cả đối với trẻ em, đặc biệt, tại các thành phố lớn. Các nữ công nhân, các thợ may nữ và những nữ giúp việc ít được theo dõi từ gia đình dường như thuộc vào tầng lớp có nguy cơ nhất, trong khi đó, các nữ sinh viên lại bị ảnh hưởng từ chính những ý tưởng tục hóa được thông truyền từ bục giảng.
Cuốn Cẩm nang của năm 1908 đã nêu lý do dấn thân của FMA trong các nguyện xá như một kiểu mẫu tông đồ, “ngày nay, những điều mà các giáo viên đã nói vẫn còn hữu ích không kém, bởi đối với rất nhiều trẻ em, nguyện xá là chính bàn thờ cứu độ”.62 Kiểu nói này cho ta hiểu rằng không phải tất cả hay ở bất kỳ nơi nào các FMA đều phục vụ trong công cuộc nguyện xá - là một công việc đòi hỏi nhiều hy sinh, tính sáng tạo, sự sự thích nghi với không gian phù hợp, nhưng cũng đòi hỏi sự thắng vượt những điều kiện xã hội.63 Các giám đốc được chỉ định như người có trách nhiệm đầu tiên, đồng thời là người khơi dậy sự cộng tác giữa các nữ tu, trong sự tôn trọng sự phân cách truyền thống giữa các ứng sinh nội trú và các em nguyện xá ngoại trú.64
Các nhà giáo dục phải biết tên từng em trong số đông đảo các thiếu nữ đến sinh hoạt nguyện xá,65 chăm sóc và tổ chức các hội lành, trong lứa tuổi tế nhị nhất được tuyển lựa. Những cử hành đạo giáo được thực hiện trước hay sau các giờ chơi.66 Vô số các sáng kiến đổi mới bầu khí hấp dẫn của môi trường, với sự trợ giúp của các cựu học sinh và các ân nhân: Xổ số, hoà nhạc, giải thưởng, kịch nghệ, dạo phố và những lễ hội khác nhau. Tuy nhiên, cách thức hữu hiệu hơn để gia tăng sự tham dự thường xuyên của thanh thiếu nữ chính là “cung cách dễ mến và sự thân ái của các nữ tu”, vì thế, điều này đòi hỏi “lòng kiên nhẫn vĩ đại, đức ái và lòng nhân hậu hướng về tất cả mà không thiên vị ai”.67
Bản Quy Luật năm 1912,68 đảm nhận một vài yêu sách mới, soạn thảo ra kế hoạch tổ chức có qui mô lớn và thống nhất dựa trên kinh nghiệm của nguyện xá Torino: “Trong thành phố đông dân cư và trong các khu công nghiệp, nơi mà các thanh thiếu nữ làm việc trong các nhà máy, hãy tranh thủ để mở cửa nguyện xá hàng ngày trong những giờ mà các trường học và nhà máy đóng cửa, và trong cùng một cách thức, thành lập các lớp học bình dân ban ngày và ban tối. Các nữ công nhân trẻ tuổi có thể có lớp học chuyên biệt vào những giờ đã được ấn định về cắt may, vẽ, kế toán, học tiếng Ý, ca hát, giáo dục tôn giáo, tất cả chỉ nhằm đến mục đích đào luyện các em trở nên những người kitô hữu tốt, ích lợi cho chính bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Còn các nữ sinh viên, ngoài khao khát được giải trí, các em được tụ họp tại những địa điểm thuận tiện, được phân chia vào các lớp, theo số lượng của những nữ giáo viên có sẵn, và dưới sự hộ trực, các em làm những bài tập về nhà, nghe bài giáo lý ngắn về giáo huấn Kitô giáo và cùng đọc kinh vào buổi chiều, sau đó các em trở về gia đình”.69 Trong cùng cách thức ấy, Nguyện xá cho thấy giá trị giáo dục rộng lớn, không giới hạn tôn giáo và đầy sáng tạo trong việc lôi cuốn các thanh thiếu nữ thuộc giới “bình dân”.
Việc thường xuyên lui tới nhiều đưa dẫn đến việc phân chia vai trò của những người trách nhiệm: Linh hướng, giám đốc, phó giám đốc, hộ trực, giáo lý viên, thư ký,70 người coi thư viện, bảo vệ. Nguyện xá không được hoạch định như một sự tách biệt khỏi giáo xứ, nhưng là khả năng tham gia vào tất cả chức năng như thể sự hướng dẫn thiêng liêng tùy thuộc vào các điều kiện địa phương. Giám đốc có nhiệm vụ giữ mối tương quan thân tình với gia đình của các em trong nguyện xá, là người sử dụng lao động “với mục đích có được sự trợ giúp của các gia đình, và trong một vài cách nào đó, ngăn cản việc các gia đình cản trở không cho các người trẻ đến với Nguyện xá ngày lễ”.71
Như thế, nguyện xá dựa vào các thành phần của tổ chức công giáo, cựu học viên và từ những người khác. Những học viên nguyện xá đáng tin cậy là những cộng tác viên tiềm năng; tuy nhiên, việc hộ trực của các tu sĩ làm nên tấm bản lề để dõi theo từng thanh thiếu nữ và đánh thức phẩm tính vui tươi nơi họ.72 Việc tách một người trẻ xa khỏi nguyện xá chỉ được dự liệu trong trường hợp em đó gây nguy hiểm hoặc làm ảnh hưởng tiêu cực trên người khác. Các em được đòi hỏi biết cư xử có giáo dục, đạo đức, khiêm tốn,73 làm gương tốt nơi gia đình và chín chắn; có thái độ dửng dưng trước sách báo xấu các loại, nhảy múa, kịch tuồng, các màn trình diễn không lành mạnh. Bên cạnh những lãnh vực đào luyện truyền thống hơn cả, đã có nhiều sáng kiến tông đồ, đặc biệt tại các thành thị, là nơi thịnh hành các tổ chức công nhân, cung ứng đồ dùng, thăm viếng thanh thiếu nữ đau bệnh.74
Trong Tổng Tu Nghị năm 1913, một Ủy ban đã xem xét và xác nhận bản điều luật. “Nhiều quy tắc” không được áp đặt ở đây, nhưng các điều luật phải hợp với những đòi hỏi của nơi chốn, hoàn cảnh, thông lệ.75 Do vậy, đường hướng này đã được vạch ra.
Chú thích
54 Trong khi tại Torino Don Bosco chăm lo cho các thanh thiếu niên thì đồng thời vào thời gian rảnh, Mẹ Mazzarello tại Mornese cũng đã bắt đầu từ một xưởng làm việc, và đưa thêm vào những hoạt động dạo chơi vui vẻ tại S. Silvestro và những hoạt động tôn giáo. Đối với Don Bosco cũng như Mazzarello việc giải trí lành mạnh không chỉ dừng lại ở chính nó nhưng việc giải trí còn giúp tăng trưởng với sự chú tâm bền bỉ đến đời sống bí tích.
55 X. Điều lệ của Nguyện xá ngày lễ dành cho trẻ nữ, Torino, Tip. Salesian 1895. Nó giới thiệu rất nhiều mục tiêu giống như Nguyện xá nam. x. Điều luật của Nguyện xá thánh Phanxicô Salê cho những trẻ ngoại trú, Torino, tip. Salesian 1894.
56 X. Giáo dục Kitô giáo cho người trẻ. Những điều lệ khác nhau cho các Nguyện xá ngày lễ và Hội Dòng, parma, tip. Vesc. Fiaccadori 1986, 1-4. Don Rua nêu lý do về việc không thể vun trồng hay gầy dựng những Nguyện xá Salêdiêng theo những đòi hỏi, đồng mời gọi một cái nhìn trực tiếp về tương lai.
57 Đặc biệt đc. Bản điều luật của Nguyện xá ngày lễ nữ và Bản điều luật cho Nhóm Con cái Thánh Tâm Chúa Giêsu, Torino, tip. Salesian 1894. Nó là hiệp hội đầu tiên của Nguyện xá nữ, được sinh động từ Sr. Elisa Roncallo FMA, sau đó được thay thế bởi Hội Con Đức Mẹ.
58 Bản điều luật của Nguyện xá... 1895, chương 2, khoảng 3- 4.
59 X. Bản điều luật của Nguyện xá... 1895, chương 1, khoản 1
60 X. như trên chương 4 khoản 2 và 3
61 Đối với Don Albera Nguyện xá là “viên đá nền tảng của công cuộc của chúng ta” và giúp chúng ta có thể vượt qua những khó khăn của những phương tiện trong cách thức tiếp nhận lối diễn tả của Don Rua “Nguyện xá ngày lễ thì ở trong bạn". X. Thư Luân lưu của Don Paolo Albera, Torino, 31 tháng 1 năm 1913.
62 Cẩm nang của những Người Con Đức Mẹ Phù Hộ được thành lập năm 1872 từ chân Phước Gioan Bosco, Torino, salesian 1908, chương II, khoản 251
63 X. như trên khoản 252. Trong thư luân lưu gửi cho các Salêdiêng đã nêu trên, cha Albera ước ao rằng mỗi cộng thể phải có ít nhất một Nguyện xá. X. Thư luân lưu của Cha Albera, Torino, ngày 31 tháng 1 năm 1913. Thật thế, với khuôn mẫu ở Roma. Những người Con Đức Mẹ Phù Hộ trên đường Maghera đã đi đến Testaccio để mở Nguyện xá ngày lễ trước khi thành lập Cộng Đoàn.
64 X. Cẩm nang của những Người Con Đức Mẹ Phù Hộ, khoản 253-255
65 Như trên khoản 256- 257. Tại trường học thường chỉ sử dụng tên Họ, vì thế việc sử dụng Tên trong một môi trường tôn giáo và đông đúc lấy đi khoảng cách của sự kính trọng/nghiêm túc
66 X. Cẩm nang của những Người Con Đức Mẹ Phù Hộ, khoản 261- 263
67 Như trên khoản 266- 268
68 Bản quy luật cho các Nguyện xá ngày lễ và cho Nhóm vườn hoa tuổi thơ, Torino, tip. Silvestrelli và Cappelletti 1912.
69 Bản quy luật, phần 1, chương 1
70 Thư ký là người có trách nhiệm sắp xếp trật tự các tài liệu ngang qua các sổ ghi chép khác nhau. X. như trên, chương 7. Trong văn khố của nhà tại Torino, Mẹ Phù Hộ, đã được tìm thấy những tài liệu như thế, dẫu rằng không hoàn chỉnh và dồi dào hơn từ khoảng nửa của những năm 20, trong khi tại các văn khố địa phương chỉ còn lại một ít dữ liệu.
71 Như trên, chương 3
72 Người hộ trực, đứng trước một em Nguyện xá nghịch ngợm, bốc đồng họ được mời gọi chăm sóc em để chiếm lấy sự tin tưởng của em, không hề bỏ rơi em cho đến khi thấy em sống vui và bình an. X. như trên, chương 5; Don Bosco đã từng xác tín rằng sự thanh thản là dấu chỉ của một trạng thái ân sủng và người trẻ phải được giúp đỡ để lấy lại sự thanh thản hoặc là giữ lấy nó.
73 X. như trên, phần 3, chương 1
74 X. Báo cáo của Hội đồng Tu nghị trên vấn đề số 6, ngày 22 tháng 9 năm 1913, trong Văn khố Trung ương của Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ Số 11. 121; Deliberazione - tài liệu chuẩn bị Tổng Tu Nghị thứ 7 , 42, số 26
75 X. Báo cáo của Hội đồng Tu nghị trên vấn đề số 9, ngày 18 tháng 9 năm 1913, trong AGFMA, 11.7/121