FMA Logo

1. Đặt trọng tâm vào Đức Giê-su



Ana María Fernández*

“À, nếu họ biết Người như bây giờ con biết Người”,322 là lời của Mẹ Mazzarello thốt lên vào lúc cuối đời, khi Mẹ đã được Đức Giê-su Ki-tô chinh phục (x. Pl 3,10-11) và Mẹ đã về đích: trước ngưỡng cửa của ánh sáng cuối cùng, và khuôn mặt của “Tân lang trên trời”, người mà Mẹ đã tìm kiếm từ thời niên thiếu, dường như hiện ra rõ ràng hơn, dưới bóng của thập giá.

Khát khao cõi siêu việt được nuôi dưỡng nơi gia đình và tỏ lộ qua câu hỏi vào thời thơ ấu: “Thiên Chúa đã làm gì trước khi tạo ra vũ trụ?”, đã dần lớn lên nhờ những lời dạy của sách giáo lý và một số sách đạo đức, nhờ chứng từ của cha mẹ và nhờ hồng ân được rước lễ lần đầu. Kể từ đó, trái tim của Main (Mazzarello) đã tập trung vào Chúa Giê-su yêu dấu.

Theo truyền thống Ki-tô giáo chân chính, linh đạo của thế kỷ XIX lấy Đức Ki-tô làm trung tâm. Lòng đạo đức bình dân mời gọi chúng ta hướng cái nhìn đức tin vào nhân tính của Chúa Giê-su, nhất là vào Mầu nhiệm Giáng sinh, Khổ nạn, vào sự hiện diện của Người trong Bí Tích Thánh Thể và Trái Tim Cực Thánh. Maria Mazzarello và cộng đoàn Mornese sống tinh thần “lấy Chúa Giê-su làm trung tâm” này, với chủ ý đặc biệt là sống tình yêu và sự giản dị trong đời sống của gia đình tu trì mới, được sinh ra trong Giáo hội, chuyên lo cho giáo dục.323

1. “Nhận biết Ngài…” (Pl 3,10)

Cha Raniero Cantalamessa kể lại trải nghiệm về khoảnh khắc mà cha hiểu rằng: cho đến thời điểm đó của cuộc đời, cha đã không biết về Đức Ki-tô cách cá vị. Cha biết nhiều sách, biết các học thuyết, các dị giáo về Chúa. Cha có khái niệm về Chúa Giê-su nhưng không biết Chúa như một con người cụ thể và sống động. Đây là một khám phá đáng kinh ngạc.324

Maria Mazzarello không thích nói về những trải nghiệm nội tâm của mình. Mẹ đã tâm sự với nữ tu Giovanna Borgna về vấn đề này như sau “nói ít với tạo vật, nói rất ít về tạo vật và không nói gì về chính mình” (Thư số 22,15), nhưng những lời của Mẹ trên giường hấp hối và những lời được đề cập ở trên, cho thấy nơi Mẹ một hành trình lớn lên trong sự hiểu biết Chúa Giê-su, Đấng đã soi sáng cho Mẹ trong sách giáo lý, đã kêu gọi Mẹ đi theo Người từ khi còn là một đứa trẻ. Lời thề khiết tịnh được thực hiện “mãi mãi ngay lập tức”325 mà không cần bàn hỏi “với bất cứ ai” vào lúc Thánh nữ mới khoảng mười bốn hay mười lăm tuổi, cho thấy rõ ràng về sức mạnh của một cuộc gặp gỡ có khả năng đưa đến một sự lựa chọn dứt khoát. Mẹ đảm bảo nhiều lần rằng “mọi người có thể lấy đi mọi thứ của Mẹ, ngoại trừ trái tim yêu mến Chúa”.326 Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ cá vị làm nổi bật mầu nhiệm tiềm ẩn của Đấng mình yêu, vì vậy, cả cuộc đời của Maria Domenica sẽ là một cuộc tìm kiếm Chúa, một sự khao khát Người. Như lời Thánh Au-gút-ti-nô dạy: “Niềm khát khao lan ra khắp linh hồn và gây ra khắc khoải khiến ta có khả năng thực hiện được khao khát ấy”.327

2. Danh Chúa Giê-su

Các Giáo phụ về thiêng liêng thường nói đến tính linh nghiệm và vẻ đẹp của Danh Thánh này, mà cả trên trời, dưới đất và nơi vực sâu đều bái lạy (x. Pl 2,10). Chắc chắn các FMA đầu tiên đã không nghe nói đến lời cầu nguyện truyền thống về Danh Chúa Giê-su, nhưng Danh này vang lên trong các nhà và trong trái tim muôn người mỗi ngày theo hàng ngàn cách.

Ở Mornese, Con Thiên Chúa nhập thể được gọi là “Chúa”, “Đấng cứu chuộc thánh thiêng”, “Đức Giê-su Ki-tô”, “Chúa Giê-su nhân lành”, hoặc với các tên gọi khác do lòng đạo đức bình dân thời bấy giờ gợi ý. Tuy nhiên, trên hết, mọi danh xưng đều quy về Chúa Giê-su, như Thiên thần đã nói với Đức Maria khi truyền tin.

Người ta cũng có thể nói chuyện với Chúa Giê-su bằng tiếng bản địa, như khi nói chuyện với những người thân yêu. Lời ca khen Chúa Giê-su đã trở thành lời chào quen thuộc được lặp đi lặp lại trong mỗi cuộc họp, “Viva Giê-su - Vạn tuế Chúa Giê-su!” và đáp lại lời chào với câu “Luôn ở trong trái tim chúng ta”. Đây là cách mà Cha Costamagna đã dạy các FMA, được lấy cảm hứng từ các tu sĩ vùng Voltaggio hoặc từ một truyền thống cổ xưa. “Vạn tuế Chúa Giê-su!”, Mẹ viết lời này vào đầu mỗi lá thư, và khi gặp ai đó trên đường, Mẹ hỏi: “Con có yêu Chúa Giê-su nhiều không?”. Nếu câu trả lời đầy khẳng định, Mẹ nói: “Vậy hãy cùng Mẹ hô lên: Vạn tuế Chúa Giê-su!”328. Chúa Giê-su Hài Đồng, Chúa Giê-su Chịu Đóng Đinh, Chúa Giê-su Phục Sinh: luôn luôn là Chúa Giê-su trong sự toàn vẹn của mầu nhiệm Người. Thánh Danh ngọt ngào sưởi ấm con tim ngày ngày là lò sưởi của “Ngôi nhà của tình yêu Thiên Chúa” - luôn sống cùng Người, vì Người và trong Người.

3. “Với Chúa Giê-su”, Thiên Chúa - ở - cùng - chúng ta

Chúa Giê-su tỏ mình ra trong đời sống của Hội dòng thời sơ khai giống như là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, cũng có thể được dịch là “chúng ta ở cùng Chúa Giê-su”. Sự hiện diện của Người được cảm nhận ở khắp mọi nơi, đặc biệt trong nhà nguyện là nơi thật đẹp để đến và dành thời gian với Người, nơi có thể muốn đến làm bạn với Người. Và nhất là, Người là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” trong cuộc gặp gỡ Thánh Thể kéo dài suốt ngày, có khả năng làm cho tất cả nên một thân thể, vì tất cả đều cùng ăn một Tấm Bánh (x. 1Cr 10,17).

Maria Domenica ý thức rõ điều này, ngay từ khi được rước lễ lần đầu, cô bé đã học cách sống kết hiệp với Chúa Giê-su mà cô bé đã rước vào buổi sáng hoặc sẽ rước vào ngày hôm sau. Cô đã dành cả ngày với Người, bắt đầu với Bí tích Thánh Thể và kết thúc bằng lời cầu nguyện ban tối từ cửa sổ nhỏ của phòng cô. Khi trở thành một FMA, Thánh nữ sống dưới sự hiện diện của Chúa và mời các chị em cũng làm như vậy: “Hãy giữ tinh thần kết hợp với Chúa càng nhiều càng tốt, hãy liên tục sống dưới sự hiện diện của Người” (Thư số 23,3).

Các nữ tu biết rõ điều này khi đi Mỹ Châu, họ luôn an tâm và vững tin vào Chúa, ngay cả khi cơn gió khủng khiếp đã thổi sập nhà: “Nếu không phải vì chúng tôi giữ Chúa Giê-su Thánh Thể trong nhà, bây giờ ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng chúng tôi được an ủi khi nghĩ rằng, nếu nhà bị sập, chúng tôi sẽ ở dưới nhà sập cùng với Chúa Giê-su và cùng với Chúa Giê-su, chúng tôi sẽ rất hạnh phúc, chúng tôi sẽ lên Thiên đàng”.329

Mọi hiệu quả đều do ân sủng của Chúa Giê-su, do đó sự năng động của đời sống cộng đoàn, của sứ vụ tông đồ và của hành trình thiêng liêng nơi mỗi người nảy sinh từ sự hiệp thông với Người. Với Chúa Giê-su - ân sủng và tự do, ân sủng và nỗ lực cá nhân - người ta có thể tiến lên và cảm nghiệm trọn vẹn sự thánh hiến của mình: Maria Mazzarello viết cho nữ tu Vittoria Cantu: “Hãy can đảm lên! Đúng là chúng ta chẳng có khả năng gì, nhưng với sự khiêm tốn và lời cầu nguyện, chúng ta sẽ giữ Chúa ở gần chúng ta và khi Chúa ở cùng chúng ta thì mọi việc sẽ tốt đẹp” (Thư số 42,3). Mẹ thánh lặp đi lặp lại nhiều lần: “Với Chúa Giê-su, gánh nặng sẽ trở nên nhẹ nhàng, khó nhọc sẽ trở thành êm ái, gai góc sẽ hóa ngọt ngào. Nhưng chị em phải chiến thắng chính mình [...]” (Thư số 22,21; 37,11; 64,5). Những đoạn này và những đoạn khác của các Lá Thư quy hướng đến những lời của Chúa Giê-su: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng, vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

4. “Vì Chúa Giê-su”, Phu quân của chúng ta

Việc quy chiếu về hình ảnh Chúa Giê-su - Phu Quân, hiện diện ngay ở đầu Hiến Luật,330 đã quen thuộc với đời sống đạo đức thời bấy giờ, đặc biệt là lòng đạo của phái nữ. Hình ảnh này thường gợi nhắc đến các ý niệm được Thánh An-phong-sô viết trong ấn phẩm Hiền Thê đích thực của Đức Giê-su Ki-tô,331 được sử dụng rộng rãi trong các học viện nam. Tuy nhiên, đây là một xu hướng đạo đức có quỹ đạo lâu dài trong truyền thống của Giáo hội khởi đi từ Kinh Thánh.

Chiều kích phu thê của đời sống tu trì được nhận thấy rõ nơi nhà Mornese. Vào ngày 5/8/1872, sau khi rời nhà thờ, “các tân nữ tu quá đỗi hạnh phúc vì bị cuốn hút bởi tiếng hát sâu thẳm trong trái tim đối với Đấng tốt lành vĩnh cửu trên trời, đã hạ mình xuống và gọi họ trở nên hiền thê của Người”.332 Sau đó, mọi cơ hội đều trở nên quý giá để phó dâng bản thân cho tình yêu của Người hoặc làm hài lòng Người hơn bằng cách chiến thắng giới hạn của bản thân. Vào Giáng sinh năm 1878, cộng đoàn, gồm cả các thiếu nữ, đã hát bài “Hài Nhi Giê-su, Phu quân tình yêu - Bambinello Gesù, Sposo d’amore”,333 mười nhà truyền giáo trong chuyến truyền giáo thứ hai được mời gọi luôn giữ sáng đèn của họ bằng dầu bác ái, cho đến khi tiếng hô lớn vang đến tai họ: kìa Chàng Rể đến (x Mt 25,1.10).334

Ý thức thuộc về Chàng Rể này có thể diễn dịch trong các lá thư của Mẹ Mazzarello như một lời nhắc nhở liên lỉ về Chúa Giê-su, như điểm quy chiếu duy nhất của con tim và như lời mời gọi khẩn thiết “hãy làm vui lòng một mình Người”, sống và làm việc “chỉ cho Người”, để chinh phục các linh hồn cho Người”. Hãy yêu mọi người và tất cả chị em mình, luôn yêu họ trong Chúa, nhưng đừng chia sẻ trái tim với bất kỳ ai, hãy hết mình vì Chúa Giê-su” (Thư số 65,3); “Hãy kết hợp mật thiết với Chúa Giê-su, làm việc để làm vui lòng một mình Người mà thôi” (Thư số 22,8); “Các con có yêu Chúa không? Có yêu thực sự từ trái tim không? Các con có làm việc cho một mình Người không?” (Thư số 23,1).

Maria Mazzarello cũng nhắc nhở bà Francesca Pastore về phần thưởng dành cho những ai biết trao ban chỉ vì tình yêu của Chúa (x. Mc 9,41): “Mẹ sẽ cầu nguyện và nhờ những người khác cầu nguyện với Chúa Giê-su, là Đấng đã hứa sẽ ban phần thưởng cho ai trao một ly nước vì tình Chúa, người đó có thể nhận lại gấp trăm lần vì hành động bác ái của mình ngay đời này và cả đời sau” (Thư số 32,2).

Lời kêu gọi rõ ràng hướng về Chúa Giê-su Phu quân - thường là Phu quân bị đóng đinh - hoặc hướng về căn tính của những hiền thê, được đặc biệt quy chiếu trong các lá thư gửi cho các Thỉnh sinh, Tập sinh hoặc nữ tu trẻ. Mẹ viết cho nữ tu Pacotto, hộ trực Thỉnh sinh: “Hãy nói với họ rằng đừng chỉ nghĩ đến việc mặc một bộ áo dòng đen, mà cần phải mặc một bộ áo nhân đức, là điều cần thiết cho một tu sĩ muốn gọi mình là hiền thê của Chúa Giê-su” (Thư số 24,2); và cho Tập sinh Ottavia Bussolino: “Mẹ rất vui khi con tuyên khấn [...]. Vì vậy, hãy chuẩn bị bản thân để thực thi các lời khấn thật tốt và trở thành hiền thê đích thực của Chúa Giê-su chịu đóng đinh” (Thư số 45,2).

Vào cuối đời, hướng nhìn về Chúa khổ nạn, Mẹ cầu nguyện: “Hỡi Phu quân trên trời yêu dấu của con [...] và sau đó nói rằng Thiên Chúa không muốn ai khác ngoài chị em!”335

5. “Trong Người”, Trái Tim Chúa Giê-su

Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì” (Ga 15,5). Những lời này của Thánh sử Gio-an, có lẽ Mẹ Mazzarello đã biết, nó đã ăn sâu vào lòng Mẹ. Nữ tu Enrichetta Sorbone, nhân chứng trung thành của thời kỳ đầu, đã có thể làm chứng rằng sau giờ rước lễ vào buổi sáng và “suốt ngày, khi Mẹ hiện diện giữa các chị em, hay ở phòng làm việc, hoặc văn phòng, Mẹ dường như vẫn mang Chúa Giê-su trong tim […], để lan truyền cho con cái và các thiếu nữ của Mẹ; chúng tôi đã cảm nhận được hương thơm của Chúa Giê-su khi Mẹ đi qua”.336

Ngay cả các lá thư cũng truyền đạt sức mạnh của việc ở lại trong Chúa. Hầu như tất cả các lá thư đều kết thúc bằng công thức “trong Chúa Giê-su”, “trong Chúa”, “Mẹ để con trong Trái Tim Chúa Giê-su”. Mẹ luân phiên sử dụng nhiều cách diễn đạt được ưa thích, nhưng chất chứa đầy phong cách cá nhân, nhất là giàu sự chân thành dành cho các chị em, những người đã rời Mornese hoặc Nizza, đã hít thở việc sống trong Chúa. Mẹ Mazzarello không chỉ viết các công thức trên trong phần kết thúc, mà cả trong nội dung thư, Mẹ thường mời các chị em cùng gặp nhau trong Trái Tim Chúa Giê-su, như địa điểm thần linh - con người,337 nơi đó lý tưởng Tin Mừng của mọi cộng đoàn Ki-tô hữu “nên một lòng một ý” có thể thực hiện (Cv 4,31; x. Thư số 18,2). “Tuy nhiên, dầu có biển cả bao la ngăn cách, chúng ta có thể thấy và đến gần nhau bất cứ lúc nào trong Thánh Tâm Chúa Giê-su, chúng ta luôn có thể cầu nguyện cho nhau, để tâm hồn chúng ta luôn được hiệp nhất” (Thư số 22,1). Việc chạy đến với Trái Tim Đức Ki-tô diễn ra trong một thời gian mà lòng sùng kính này đạt đến những chiều kích phổ quát.338 Thật hợp lý khi tin rằng Mẹ Mazzarello quen với việc chạy đến với Trái Tim Đức Ki-tô trong môi trường quê hương của mình, nhưng việc làm này lại được sống với phong cách cá nhân. Chúng ta không tìm thấy nơi Giáo hội một số khía cạnh điển hình nào của lòng sùng kính thời bấy giờ, chẳng hạn như chiều kích đền tạ, vương quyền của Đức Ki-tô, hình ảnh Trái Tim bị đâm thâu, cũng không đề cập đến việc thực hành thứ sáu đầu tháng, là những nét đặc trưng hơn cả của vùng Torino.339

Nữ tu Maria Esther Posada nhận ra tầm ảnh hưởng đặc biệt của Cha Giuseppe Frassinetti trong việc hướng về Đức Ki-tô này của Thánh nữ, cũng như đến mối tương quan của Thánh nữ với mầu nhiệm Thánh Thể: “Hiện tại, chúng ta hãy hài lòng với việc chúng ta chỉ gặp nhau bằng tinh thần và nói với nhau trong Trái Tim Chúa Giê-su. Các con hãy nói nhiều điều tốt đẹp cho Mẹ khi các con hiệp nhất trong Trái Tim đáng kính thờ này, đặc biệt khi các con hiệp lễ” (Thư số 39,2-3 và số 27,6).

Dù bị ảnh hưởng bởi lòng đạo thời đó, nhưng sự quy hướng của Maria Mazzarello đến Trái tim Chúa Giê-su mang phong cách cá vị đặc biệt, nghĩa là, không hướng đến sự thân mật, mà hướng mạnh mẽ đến chiều kích cộng đoàn. Trong khi Cha Frassinetti cầu nguyện: “Lạy Trái Tim Chúa Giê-su đáng yêu của con [...] hãy thắp lửa cho trái tim con”,340 thì Mazzarello cũng cầu nguyện như vậy, nhưng Mẹ cũng không quên đưa các chị em, các thanh thiếu nữ hoặc những người khác vào trong cuộc gặp gỡ với Chúa, không chỉ để cầu nguyện cho họ, nhưng tìm gặp họ trong Chúa Giê-su: nói chuyện với nhau, lắng nghe nhau, biết nhau, thiết lập mối quan hệ của tình huynh đệ và tình mẫu tử. Như vậy, cộng đoàn tìm thấy sức mạnh của sự gắn kết, của phong cách sống và hoạt động tông đồ nơi tình yêu và ân sủng của Trái Tim Chúa Giê-su, nơi Bí tích Thánh Thể, nguồn suối thực sự của mình.

Sự hiệp nhất của các chị em hiện thực được nhờ sống trong Chúa Giê-su, thì cũng xảy đến với “những người mà nhờ lời của họ mà tin” (Ga 17,20-21). Thực vậy, Maria Domenica đã viết thư cho Maria Bosco, người đang ở gia đình vì đau bệnh: “Eulalia và Clementina đang rất khỏe và vui vẻ [...]. Họ chờ đợi con và trong khi chờ đợi, họ đi tìm gặp con mỗi ngày trong Trái Tim Chúa Giê-su, hãy để họ tìm thấy con ở đó” (Thư số 13,1).

Cuối cùng, việc ở lại trong Chúa Giê-su không thể thực hiện một cách hữu hiệu nếu không có tình yêu (x. Ga 15,10; 1Ga 3,24), tình yêu đến từ cộng đoàn sống bác ái, nghĩa là, khi nào Hội dòng thiết lập những mối tương quan bác ái trong Thần Khí của Chúa Giê-su, thì Hội dòng mới có thể được gọi là nhà của tình yêu Thiên Chúa và hưởng kiến Thiên Đàng (Thư số 49,3). Trong “Ngôi nhà thú vị đó” (Thư số 8,9), sự hiệp nhất đạt được với Chúa Giê-su, vì Chúa Giê-su, trong Chúa Giê-su, sẽ là lễ hội vĩ đại nhất.


Chú thích

* Ana María Fernández, FMA đến từ Argentina, nguyên Giáo sư Thần học Linh đạo tại Phân Khoa Giáo Hoàng về Khoa Học Giáo Dục “Auxilium”, nhà nghiên cứu lịch sử của Hội dòng ở Patagonia .

322 Lemoyne Giovanni Battista, Relazione sulla malattia e morte di madre Maria Domenica Mazzarello (1881), trong Orme di vita D 122, 335.

323 Có thể tìm thấy một số khái niệm được khai triển ở Fernández Ana Maria , Le Lettere di Maria Domenica Mazzarello, testimoni e mediazione di una missione carismatica, Roma, LAS 2006, 264-287.

324 Đc Cantalamessa Raniero, Gesù Cristo, il Santo di Dio, Milano, Paoline 1990, 118.

325 Hồi sử I 53.

326 Maccono II 194.

327 Agostino, Meditazioni sulla Lettera dell’amore di San Giovanni, Roma, Città Nuova 19938, 121.

328 Hồi sử II 361.

329 Hồi sử III 57

330 Đc Regole o Costituzioni per l’Istituto delle Figlie di Maria SS. Ausiliatrice aggregate alla Società Salesiana, Torino, Tipografia e Libreria Salesiana 1878, XIII 2; XVI 27. Cách gọi này đã được đề cập trong các bản viết tay đầu tiên.

331 Ngay từ những trang đầu tiên, tác giả đã đặt nền tảng trên Kinh Thánh, rằng “một trinh nữ hiến dâng sự đồng trinh của mình cho Chúa Giêsu Ki-tô sẽ trở thành tân nương của Chúa Giêsu Ki-tô” (Alfonso M. de Liguori, La vera sposa, 11 [Cap. I §2]).

332 Hồi sử I 306-307.

333 Hồi sử II 155.

334 Đc Hồi sử II 366.

335 Hồi sử III 378.

336 Testimonianza di Enrichetta Sorbone, trong Summarium 150-151.

337 Đc Posada Maria Esther, Storia e santità. Influsso del teologo Giuseppe Frassinetti sulla spiritualità di S. Maria Domenica Mazzarello, Roma, LAS 1992, 95.

338 Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu được mở ra cho toàn thể Giáo hội theo sắc lệnh của Thánh Bộ Nghi Lễ, ngày 23 tháng 8 năm 1856.

339 Lòng đạo đức này được nói đến trong Hồi sử do vài FMA (như Sr Elisa Roncallo) và vùng Torino phổ biến; có lẽ ảnh hưởng từ các Sa-lê-diêng và cách thực hành chung của Giáo hội.

340 Frassinetti Giuseppe, La divozione illuminata. Manuale di preghiere [Genova, Gioventù 1867], trong Opere ascetiche II 238.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026