Chương 2 - Tổng hợp các gợi hứng Kinh Thánh trong các nguồn tường thuật
Eliane Anschau Petri
Các nguồn tường thuật gồm các thể loại: Hồi sử, chứng từ, báo cáo, tiểu sử,… truyền tải nhiều hơn những thông tin miêu tả về cuộc đời của Maria Domenica và Hội dòng FMA trong những năm đầu thành lập. Chúng là những chứng tích mang chở di sản thiêng liêng, kinh nghiệm, sự khôn ngoan, giáo dục, nguồn mạch… mà từ đó tuôn trào năng động lực đổi mới và sự tươi mới sáng tạo cho mọi giai đoạn của đời sống Hội dòng.
Những lời chứng và thông tin này - không đến trực tiếp từ Maria Domenica – mà được ảnh hưởng từ cách thức giải thích, cảm nhận, tường thuật của những người nhắc đến Thánh nữ: sử gia, nhân chứng và những người biên soạn. Đặt nền trên kinh nghiệm, bối cảnh lịch sử, cảm nhận tôn giáo và văn hóa của mình, họ tường thuật và giải thích cuộc đời của Thánh nữ; và gần như vô thức, họ cho thấy những suy tư Kinh Thánh mà Thánh nữ và cộng đoàn tiên khởi đã sống.
Chúng ta hầu như không bao giờ tìm thấy những trích dẫn Kinh Thánh trực tiếp trong các nguồn này. Tuy nhiên, khi đọc chúng một cách cẩn thận, không khó để tìm thấy sự liên hệ với Kinh Thánh, bởi vì chúng tỏ cho thấy một bầu khí cộng đoàn thẩm thấu và thấm nhuần Lời Chúa, một cộng đoàn sống và hướng về nhiều sự kiện trong Kinh Thánh.
Nếu dùng mô hình (hình ảnh dẻo) để diễn tả thì có thể nói cộng đoàn như một “thùng loa” của Lời Chúa, vì các chị em đã đón nhận, nhập thể và sống Lời Chúa qua đời sống đơn sơ, nên chị em đã để cho Lời ấy vang lên mà chính mình cũng không nhận ra.
Sự diễn tả về tinh thần Mornese của Sr. Enrichetta Sorbone khiến ta liên tưởng đến cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi, một cộng đoàn được định hình bởi Lời Chúa:
“Vâng lời tuyệt đối, sống giản dị, tuân giữ luật thánh xác đáng; hồi tâm và thinh lặng đáng khâm phục; tinh thần cầu nguyện và hãm mình; nhiệt thành và trong trắng; tình huynh đệ trong chuyện trò, niềm vui và sự hoan lạc đầy thanh thản đến mức ngỡ như thiên đường. Chúng tôi chỉ nghĩ và nói về Thiên Chúa, về tình yêu thánh thiện của Người, về việc yêu mến Mẹ Maria, Thánh Giu-se và Thiên Thần Bản mệnh. Chúng tôi luôn làm việc dưới ánh nhìn dịu dàng nhất của các Ngài, như thể các Ngài hiện diện ở đó không vì mục đích nào khác. Cuộc sống mới đẹp làm sao!”311
1. Hồi sử của Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ
1.1. Mô tả nguồn
Hồi sử giới thiệu cho chúng ta một cách đọc khôn ngoan về lịch sử của Hội dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ. Thông qua việc ghi lại các sự kiện đơn giản hàng ngày, những nguồn này cung cấp cho chúng ta những yếu tố căn bản của “đời sống Sa-lê-diêng”, được các chị em tiên khởi diễn dịch theo “tinh thần Mornese”.
Ngay từ đầu chủ ý đào luyện đã được xác định là: “tái xây dựng lại quá khứ để hồi sinh một tinh thần”.312 Chủ ý này không đánh giá thấp hồi ức xuyên suốt Hồi sử, vì Hồi sử chất chứa bao nhiêu thông tin không tìm thấy được ở một nguồn nào khác. Tuy nhiên, chúng tôi phải lưu ý rằng trong quá trình soạn thảo, chủ đích xây dựng nền tảng cho đời sống chiếm ưu thế hơn chủ đích viết sử.313 Ngay từ thời đầu, Bộ Hồi sử có lợi thế là nó đại diện cho nỗ lực thu thập và biên soạn các sự kiện và cuộc sống của cộng đoàn tiên khởi, gần như nó là sự tự hiểu về cuộc sống riêng của mỗi FMA, của các Đấng Sáng lập và của chính đoàn sủng. Nguồn này có ưu điểm là không tập trung hoàn toàn vào Maria D. Mazzarello, mà tập trung vào đời sống của cộng đoàn đầu tiên. Do đó, các tham chiếu có thể có đối với Lời Chúa là sự tái hiện của một “bầu khí cộng đoàn” được Lời Chúa thẩm thấu và thấm nhuần. Các tác giả của bộ Hồi sử không ghi lại những trích dẫn về Lời Chúa theo nghĩa đen, cả trong tường thuật của các tác giả nữ, cũng như trong những lời chứng và tài liệu mà họ sử dụng để viết lịch sử, nhưng chúng ta có thể thoáng thấy những gợi hứng tiềm ẩn, không chủ ý, nhưng lại rõ ràng của Lời Chúa.
Bộ Hồi sử được chia thành 5 tập với trình tự nội dung - thời gian như sau:
Cuốn 1: Sự chuẩn bị và thành lập (1828-1872)
Cuốn 2: Hội dòng ở Mornese. Lần mở rộng đầu tiên (1872-1879)
Cuốn 3: Từ Nizza Monferrato. Lần mở rộng mới với Mẹ Mazzarello (1879-1881)
Cuốn 4: Di sản của Mẹ Mazzarello chuyển vào tay Mẹ Daghero (1881-1884)
Cuốn 5: Những năm cuối dưới ánh nhìn của Đấng Sáng lập (1885-1888)
Để thuận tiện cho việc đọc chương này, mỗi đoạn trích dẫn có vài dòng giới thiệu về ngữ cảnh; và khi cần thiết, năm qui chiếu cũng sẽ được xác định.
1.2. Những gợi hứng Kinh Thánh
Maria Domenica Mazzarello trong thời gian dưỡng bệnh sau cơn bệnh dịch tả: “Ý muốn của Thánh nữ không phải là sự khuất phục trước Thánh ý, mà là niềm vui khi có một thứ gì đó để dâng lên Chúa, như bảo chứng cho lòng trung thành của mình. Nó là ước muốn của trời cao. Một hôm, Thánh nữ nghe tin ba mẹ cô đang than khóc vì đã chấp nhận cho con đi giúp đỡ cô chú bị bệnh, họ tự buộc tội mình vì đã khiến con gặp nguy hiểm. Thánh nữ nói ngay: Tại sao ba mẹ muốn tin rằng sự dữ đến với con là vì điều đó? Ồ, nếu đó là sự thật thì con sẽ tử vì đạo. Nhưng con không xứng đáng. Phúc tử đạo ư! Con sẽ rất may mắn! Ba mẹ đừng khóc. Tất cả chúng ta hãy làm theo ý Chúa một cách xứng đáng. Ngài sẽ ban thưởng cho chúng ta, rồi ba mẹ sẽ thấy điều đó!” (cuốn I, 89).
Ước muốn được chết cách tử đạo vì bác ái gợi lên ý nghĩa Kinh Thánh của việc tử đạo vì tình yêu: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
“Nơi Thánh nữ [Maria Domenica Mazzarello], lời của Thánh Phao-lô đã thành hiện thực: “Những ai Thiên Chúa kêu gọi, thì Người cũng đã tiền định” (Rm 8, 29-30). Bởi vì, một ngày nọ, Thánh nữ được kêu gọi để trở thành chủ của một gia đình lớn, tự bản chất, Thánh nữ đã có tất cả phẩm chất của người điều hành: một nhà lãnh đạo khôn ngoan mà sự hoàn hảo về đạo đức của chính mình và của người khác được đặt nền trên sự quên mình, trên hạnh phúc của người khác, trên lý do và giới hạn của bất kỳ sự hy sinh nào” (cuốn I, 138).
- Điều này được qui chiếu rất rõ ràng trong Rm 8,29-30.
Cha Bosco tiết lộ suy nghĩ của ngài về việc thành lập Hội dòng FMA như sau: “Trong tâm trí của Chúa Cha, Hội dòng đã hình thành rồi, bởi vì Ngài kêu gọi thiên đàng chúc lành cho nó và mặc khải nó trong buổi lễ nhắc nhớ việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại qua các đạo sĩ. Lễ hiển linh năm 1872! Chúng ta hãy ghi dấu ngày ra đời của gia đình thứ hai của Cha Bosco bằng những dòng chữ vàng! Tất cả mọi thứ được thực hiện trong thinh lặng và bóng tối, nhưng không vì thế mà làm cho nó kém quan trọng. Trời cao đã nói chuyện với Cha Bosco qua những giấc mơ, đã bày tỏ ý muốn của mình một cách rõ ràng và được chấp thuận bằng lời của Đức Giáo Hoàng thiên thần, cùng sự dễ dạy thanh thản của Cha Bosco đối với các kế hoạch của Đấng quan phòng thiêng liêng. Thế gian không biết gì về điều đó, cũng như không biết gì về phép lạ của Chúa trong trái tim của các đạo sĩ. Chỉ sau này, Thiên Chúa mới cho nhìn thấy chúng qua những hình thức bên ngoài, những phương thức cần thiết để thiết lập một công trình tuyệt đẹp như vậy giữa con người. Các Nữ tử hôm nay của Cha Bosco xuất hiện, họ mang đến cho trái tim cha nụ cười của biết bao niềm hy vọng không bao giờ tan biến” (cuốn I, 271).
- Cha Bosco khoác cho quá trình thành lập Hội dòng ý nghĩa Kinh Thánh của Lễ Hiển Linh, như là một sự mặc khải của Thiên Chúa (x. Mt 12,1-12).
Hội Dòng FMA chính thức ra đời trong một khóa tĩnh tâm: “Ngôi nhà đã trở thành phòng tiệc ly; và cũng như trong phòng tiệc ly, các tâm hồn đều thanh thản và ở lại trong Chúa, chờ đợi giờ hồng ân cao cả bằng lời cầu nguyện và tình yêu nồng nhiệt” (cuốn I, 297).
- Bầu khí sốt sắng của tĩnh tâm có thể so sánh với bầu khí của các môn đệ tụ họp cầu nguyện trong phòng tiệc ly (x. Cv 1,14).
Vào ngày tuyên khấn lần đầu của 11 FMA tiên khởi, 5/8/1872, Đấng Sáng lập Cha Bosco đã ngỏ lời với các nữ tu mới: “Trong số những cây bé nhỏ, có một cây rất thơm là cây cam tùng, thường được nhắc đến trong Kinh Thánh. Trong phụng vụ lễ các Trinh Nữ có ghi: Cam tùng của tôi tỏa hương thơm ngào ngạt, cây cam tùng của tôi tỏa ra một mùi nước hoa ngọt ngào! Nhưng các con có biết điều gì cần thiết để cam tùng có mùi thơm không? Nó phải được nghiền nát. Vì vậy, đừng hối tiếc khi phải chịu đựng. Ai chịu đau khổ vì Đức Giê-su Ki-tô thì cũng sẽ cùng Người hiển trị muôn đời” (cuốn I, 305).
- Hình ảnh cây cam tùng hiện diện trong Cựu Ước : “Lúc quân vương ngự giữa nội cung, dầu cam tùng của tôi tỏa hương thơm ngát” (Dc 1,12); và trong Tân Ước, trong đoạn xức dầu ở Bê-ta-ni-a: […] “Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm […]” (Ga 12,1-8).
Từ lời chúc ngủ ngon của Mẹ Mazzarello dành cho các FMA:
- “Các chị em yêu quý, hôm nay các chị em có vui không?
- Ồ vâng, thưa mẹ! Cảm ơn, cảm ơn rất nhiều!
- Vì thế, Mẹ hy vọng rằng mỗi người trong các con sẽ biết cách thực hiện một số việc hãm mình khi nghĩ đến của lễ dâng lên Chúa Giê-su vào lúc hiệp lễ sáng mai; bởi vì đi rước lễ với hai bàn tay trắng thì không là một tu sĩ tốt” (cuốn II, 85-86).
- “Đừng đứng trước nhan Chúa với đôi bàn tay không” (Hc 35,4).
Về sự hoán cải của Maria Belletti - một đối tượng giáo dục tại Mornese:
“Tuần cửu nhật đã bắt đầu. Vào ngày thứ ba, Maria Belletti tâm sự về mong muốn của mình với Mẹ, theo một cách khác thường ở trường nội trú. Maria bước vào nơi các bề trên đang tập trung, quỳ xuống trước mặt Mẹ và khóc: Ôi Mẹ, con thật bất xứng, nhưng con xin Mẹ, xin nhận con giữa các con gái của Mẹ; con muốn Mẹ cũng là mẹ của con. Mẹ sẽ thấy, con sẽ đền bù quá khứ và con sẽ cố gắng tôn vinh Chúa vì những gì con đã xúc phạm đến Người từ trước đến nay. Trong khi Mẹ Mazzarello ngỡ ngàng và do dự, chưa thể nói lời nào, thì Maria Belletti cắt đứt bím tóc xinh đẹp vắt qua vai bằng một nhát kéo. Các mẹ ở đó đều cảm động. Mẹ Mazzarello hôn lên trán “cô bé Maddalena mới” và âu yếm nói với cô: Nếu con muốn làm con gái Mẹ, Mẹ sẽ là mẹ thật của con” (cuốn II, 131-132).
- Sự hoán cải của Maria Belletti gắn liền với trình thuật Phúc Âm về Ma-ri-a Ma-da-lê-na (x. Lc 8,2; Lc 7,36-50; Mc 14,3-9).
Khởi hành truyền giáo từ Mornese (1878):
“Chúa nhật 29 được chọn để làm lễ chia tay các vị truyền giáo trong nhà nguyện của nhà nội trú, giống như đã làm vào ngày 6/11/1877 và vào lễ Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội cuối cùng tại Valdocco. Sau khi hát kinh chiều, Cha Giám đốc [Giovanni Battista Lemoyne] tiến lên bàn thờ và nói rằng đã đến lúc mười nữ tu được chọn lên đường đến thế giới mới: Các con hãy đi - ngài nói - vì các thiên thần của Châu Mỹ đang chờ đón các con ở đó. Hãy chăm sóc nhiều linh hồn mà các Thiên thần Bản mệnh của chúng giao phó cho các con, hãy hợp tác với các ngài để cứu chúng và làm cho chúng được hạnh phúc vĩnh cửu”.
Sau đó, ngài nói thêm để so sánh mười nữ tu với mười trinh nữ trong Phúc Âm được gọi để đi gặp Phu Quân trên trời: “Các con đừng là các trinh nữ dại dột, nhưng tất cả các con hãy là những trinh nữ khôn ngoan. Như vậy, các con sẽ luôn giữ đèn đầy dầu, dầu của lòng đạo đức đối với Thiên Chúa, vì tình yêu của Người, các con hãy từ bỏ những gì mình yêu quý nhất trên trái đất này; sống bác ái với người bên cạnh bằng cách hy sinh mạng sống để dạy dỗ họ, biến đổi và cứu rỗi họ. Vì vậy, hãy can đảm: hãy đi và tham gia cùng các chị em đã đi trước các con. Dưới ngọn cờ của Đức Trinh Nữ Phù Hộ mà các con là con gái của Ngài, hãy vâng lời, hãy làm việc. Có lẽ chẳng bao lâu nữa các con sẽ nghe thấy tiếng nói lớn vang lên bên tai khi Chàng Rể đến gần: Kìa, Chàng Rể đến, hãy ra đón Người. Sau đó, không lo lắng cũng không đau đớn, các con sẽ đến gặp Chàng và chẳng bao lâu nữa, các con sẽ bước vào cuộc hôn nhân vĩnh cửu với Chàng” (cuốn III, 365-366).
- Lời của Cha Giám đốc là một cách diễn giải dụ ngôn mười cô trinh nữ (x. Mt 25, 1-12).
Cha Giovanni Cagliero, Tổng Giám đốc của Hội Dòng FMA, trình bày về Hiến Luật đầu tiên được ấn bản (1879) như sau:
“Hạnh phúc thay người tu sĩ sống theo Luật của mình, cũng như sống nhờ việc rước lễ! Vì vậy, mỗi người trong các con, những người Con Đức Mẹ Phù Hộ và những người con của người cha chung của chúng ta là Cha Bosco, hãy làm sao vào mỗi cuối ngày, các con có thể hôn cuốn Hiến Luật và lặp đi lặp lại: “Linh hồn tôi hãy ngợi khen, ngợi khen Chúa cho đến chết!”. Đây là những lời mà các con sẽ tìm thấy trên trang tiêu đề của “cuốn sách vàng”. Đây cũng là những lời chúc của người cha đáng kính Cha Bosco dành cho các chị em tốt lành của ngài, các người Con Đức Mẹ Phù Hộ” (cuốn III, 78).
- “Ca tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi! Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng Chúa, sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời” (Tv 146,1-2)
Mẹ Mazzarello hiện diện khi cha mình đang hấp hối (1879):
“Vào ngày 22, Mẹ Mazzarello nhanh chóng khởi hành về Mornese, nơi cha của Mẹ đang đau nặng. Tin tức đau thương này ập đến với Mẹ, nhưng trái tim của Mẹ chỉ biểu hiện một hành động: Lạy Chúa, bây giờ và mãi mãi xin thực hiện thánh ý Ngài” (cuốn III, 95).
- Nỗi buồn được đón nhận với sự ngoan ngoãn vâng theo ý muốn của Thiên Chúa, gợi lại cảm xúc và lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-ni: “Cha ơi, nếu Cha muốn, hãy cất chén đắng này khỏi con! Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin cho ý Cha được thực hiện” (Lc 22,42).
“Trong quá khứ, các nữ tu của chúng con phấn khởi đến ngôi nhà mới ở La Boca. Hiện tại họ không gặp phải sự phản đối nào, bởi vì Chúa quan phòng làm cho bốn hoặc năm Hội Tam điểm đang tồn tại ở đó bất hòa với nhau. Kể từ đó, mọi vương quốc tự chia rẽ sẽ trở nên hoang tàn, vì vậy chúng được coi như những con sư tử không có móng vuốt, chúng cũng không đủ sức để tấn công chúng con vào lúc này. Cảm ơn Chúa!” (cuốn III, 129).
- “Bất cứ nước nào tự chia rẽ, thì sẽ điêu tàn. Bất cứ thành nào hay nhà nào tự chia rẽ, thì sẽ không tồn tại” (Mt 12,25).
Mẹ Mazzarello giúp rèn luyện tính khiêm nhường:
Dù vô cùng nhân từ và cảm thông đối với những ai chưa thể sửa mình, hay còn thiếu khiêm nhường, nhưng Mẹ không khoan nhượng với sự quanh co của tính tự ái và những gì gây ra điều chẳng lành cho người khác.
Trong những trường hợp này, Mẹ dạy với một giọng điệu nghiêm khắc: “Những người đó giống như các kinh sư và người Pha-ri-sêu! Hoặc là họ hoán cải, hoặc là họ biết rằng họ không được ở trong nhà Chúa và họ nên đi đường khác nếu cần” (cuốn III, 149-150).
- Những lời của Mẹ Mazzarello có thể được liên kết với thái độ của những người Pha-ri-sêu bị Chúa Giê-su chỉ trích gay gắt (x. Mt 23,1-38; Mc 12,38-40; Lc 20,45-47).
Từ lời chúc ngủ ngon của Mẹ Mazzarello (1880):
“Khi con tim tìm thấy đức ái đích thực trong gia đình, giữa các chị em và các Bề trên, thì nó không tìm kiếm điều gì khác; nhưng nếu không có lòng bác ái này, thì ở đây đang có một con ngựa điên. Vì vậy, hãy có Đức ái, Đức ái! Ước gì đây là bông hoa để dâng lên Chúa Giê-su trong mỗi lần rước lễ, là ân sủng cần xin mỗi khi chúng ta đến thăm Người” (cuốn III, 216).
- Trong những lời này, Mẹ dường như gợi lại những gì mà Thánh Phao-lô đã viết cho các tín hữu Rô-ma:
“Lòng bác ái đừng giả hình giả bộ: hãy ghét điều ác, mến chuộng điều lành; yêu thương nhau với tình huynh đệ, hãy tôn trọng lẫn nhau” (Rm 12,9).
Những “nhắc nhớ” của Cha Giovanni Cagliero tại tuần tĩnh tâm (1880):
“Sáng ngày 10, bài giảng về “những nhắc nhớ” của Cha Cagliero đưa mỗi người tĩnh tâm trở về căn nhà và văn phòng của mình với tâm hồn tràn ngập những quyết tâm thánh thiện: Như Nữ hoàng Ét-te đã cứu dân tộc mình bằng những lời cầu nguyện gửi đến Vua Át-sua, cũng vậy, mỗi người Con Đức Mẹ Phù Hộ phải cứu rất nhiều tội nhân và đưa thật nhiều linh hồn lên thiên đàng với lời khẩn cầu của mình, với tình yêu họ dành cho Chúa Giê-su, với những hy sinh của họ” (cuốn III, 221-222).
- Những lời của Cha Cagliero ám chỉ rõ ràng đến Nữ hoàng Ét-te, người đã cứu dân tộc của bà nhờ lời cầu nguyện và lòng tín thác vào Thiên Chúa (x. Et 4, 17k-17z).
Từ một bài giảng của Mẹ Mazzarello về “ý ngay lành” (1880):
“Chúng ta không được so sánh mình với những người khác, khi tự hỏi họ làm việc nhiều hơn hay kém hơn chúng ta, họ làm những công việc đẹp đẽ hơn hay kém hơn chúng ta. Mỗi người có tài cán hoặc năng khiếu riêng và phải sinh hoa kết trái hơn những gì mình đã nhận được, chứ không phải những gì mình không nhận được. Một người có thể cho mười nén, trong khi người khác chỉ cho năm nén, hay chỉ một nén: không thành vấn đề! Nhưng nếu ai được cho mười, mà làm có chín, thì xin thưa, người đó sẽ phải tính sổ về một nén không được sử dụng do thiếu trách nhiệm; và nếu một người chỉ được cho một nén, ngồi ở đó khóc lóc một mình vì người khác được cho nhiều hơn mình, thì người đó sẽ phải tính sổ về nỗi buồn của mình, vốn chỉ xuất phát từ lòng tự ái! Những người làm công việc nhẹ không được nghĩ mình được ưa chuộng hơn những người làm công việc nặng nhọc và vất vả. Có lẽ điều mang lại công trạng hơn chính là làm những việc thường ngày không vì bản thân, nhưng là với ý ngay lành” (cuốn III, 259).
- Một tham chiếu rõ ràng đến dụ ngôn các nén bạc (x. Mt 25,14-30).
Bài giảng của Mẹ Mazzarello về “ý ngay lành” (1880):
“Chúng ta hãy quan tâm đến ý hướng trong việc chu toàn bổn phận của mình: với tư cách là người Ki-tô hữu và tu sĩ. Chúa thấu tỏ hơn những gì người khác nhìn thấy. Người nhìn thấu suy nghĩ của chúng ta, đếm từng lời nói của chúng ta, xem xét công việc của chúng ta; và với sự thánh thiện vô hạn, Người sẽ yêu cầu chúng ta tính sổ rất nghiêm ngặt về mọi thứ. Vì thế, Mẹ khuyên: mỗi người hãy đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, sống trước mặt Thiên Chúa và làm mọi sự chỉ để làm theo ý Thiên Chúa và để làm vui lòng Người mà thôi” (cuốn III, 260).
- “Con người nhìn thấy bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn thấy tấm lòng” (1Sm 16,7).
Lời cảnh báo của Mẹ Mazzarello cho cộng đoàn (1880):
“Nếu khi đi qua các hành lang và cầu thang, chị em thấy ai đó đang mang nặng, hãy giúp đỡ ngay lập tức và người kia sẽ vui lòng nhượng bộ như Chúa Giê-su đã trao cây thánh giá của mình cho ông Si-mon Ky-rê-nê vác; và đừng bao giờ là một trong những người chỉ biết nghĩ cho mình và để người khác tự xoay sở!” (cuốn III, 265).
- Qui chiếu đến ông Si-mon Ky-rê-nê giúp Chúa Giê-su vác Thánh Giá (x. Lc 23, 26).
Chuẩn bị lễ Mẹ Vô Nhiễm và Lễ Giáng Sinh. Sách thiêng tại cộng đoàn về tờ báo Bollettino salesiano (12/1880):
“Sau lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và Giáng Sinh, chúng ta hãy nắm bắt cơ hội tốt đẹp này để cho thấy tình cảm nồng nàn của chúng ta dành cho Con Chúa và Đức Maria! (…) Khi có Chúa Giê-su trong lòng, được đón nhận từ bàn tay của Mẹ Maria, chúng ta hãy thề trung thành với Người bằng những lời của vị đại thánh: ‘Dù đói khát, nghèo túng hay giàu sang, dù hoạn nạn, khốn khổ, bắt bớ, gươm giáo, dù trời cao hay vực thẳm, dù sống hay chết, hay bất cứ một thụ tạo nào, cũng không thể tách con ra khỏi tình yêu của Chúa. Lạy Chúa Giê-su rất đáng mến yêu của con’…” (cuốn III, 281).
- Những lời này vang dội lời của Thánh Phao-lô: “Ai sẽ tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô?” (Rm 8,35-39).
Từ bài huấn từ về khó nghèo của Mẹ Mazzarello vào cuối năm 1881:
“Tục ngữ có câu: ‘Năm mới, đời sống mới’, nhưng nó không được là chữ chết đối với chúng ta... Chúng ta hãy quý chuộng và thực hành đức khó nghèo tu trì với một tình yêu chân thật, vì đó là nhân đức rất được Chúa Giê-su, Mẹ Maria và Thánh Giu-se, “vị quản lý” và đấng bảo trợ đặc biệt của chúng ta quý chuộng và thực hành. Chúng ta đừng để mình bị mối nguy hiểm của tiện nghi và giàu sang thắng thế; chúng ta hãy tiếp tục sống hiệp nhất trong đức ái, trong sự nhiệt thành và tinh thần khó nghèo đích thực, vì khó nghèo là vinh quang huy hoàng nhất vào những năm đầu ở Mornese” (cuốn III, 300).
- Huấn từ cuối cùng của Mẹ Mazzarello gợi nhắc rõ ràng những lời của Thánh Phao-lô nói với các tín hữu Cô-rin-tô: “Đức Ki-tô vốn giàu sang phú quý đã trở nên nghèo khó vì anh em, để nhờ cái nghèo của Ngài mà anh em nên giàu có” (2Cr 8,9).
Tầm quan trọng của Lời Chúa đối với Mẹ Mazzarello:
“Khi có thể đi lại được, Mẹ Mazzarello hiến mình trước tiên cho các nhà truyền giáo và tập sinh tương lai; Mẹ dõi theo và hay hỏi họ bằng cách thức đáng yêu của mình: ‘Đã mấy giờ rồi con? Hãy nói cho Mẹ biết một điều con đã nguyện ngắm, đọc sách thiêng hay nghe bài giảng không? Con có vui không?’ Nếu câu trả lời đã sẵn sàng và như mong đợi, Mẹ khen ‘giỏi lắm’ với cả tấm lòng. Trái lại, nếu họ bối rối hay không thể nhớ được gì, Mẹ cho đọc lại một điểm suy gẫm, rồi lặp lại tư tưởng ấy khi thuận tiện: Như mặt trời rọi chiếu trên mặt đất thế nào, thì Lời Chúa cũng soi sáng tâm trí, khơi dậy những tâm tình tốt đẹp trong lòng và sinh hoa trái là những việc lành cho thiên đàng” (cuốn III, 308).
- “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105).
Cha Bosco gửi cho các nhà truyền giáo sắp lên đường (1881):
“Ngài đề cập đến sự hy sinh của những người sắp khởi hành, đến nghĩa vụ cộng tác để cứu rỗi các linh hồn, đến phần thưởng vĩnh cửu dành cho những ai dám từ bỏ tất cả vì Đức Giê-su Ki-tô và cho những người làm nên một phần bản thể của Người, để mở rộng vương quốc của Người trên trái đất” (cuốn III, 321).
- “Phàm ai bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái hay đất đai vì danh Ta, thì sẽ được gấp bội và được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Mt 19,29).
Những lời của Cha Bosco với nhóm truyền giáo sắp lên đường tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Phù Hộ (1881):
“Hãy yêu thương nhau như anh chị em thật sự và như yêu chính bản thân mình. Lòng mến giữa anh chị em phải thật thân tình và rộng mở [...]; Hãy sửa lỗi cho nhau bằng sự tử tế và đơn sơ; hãy cho mọi người thấy được sự hiệp thông đích thực giữa Sa-lê-diêng và các nữ tu” (cuốn III, 335).
- “Ngươi hãy yêu người lân cận như chính mình” (Mt 22,39).
“Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi” (Pl 4,5).
“Hãy yêu thương nhau bằng tình huynh đệ, hãy tôn trọng lẫn nhau” (Rm 12,10).
Vào giờ chết của Mẹ Mazzarello (1881):
“… ‘Chúng ta không còn mẹ nữa!’ Enrichetta Sorbone trầm giọng nói. Còn nữ tu Pampuro nói trong dòng nước mắt rưng rưng: ‘Chúa đã ban Mẹ cho chúng ta, Chúa lại lấy Mẹ khỏi chúng ta; xin cho Thánh ý Người được thể hiện’…” (cuốn III, 395).
- Những lời của Sơ Teresa Pampuro dường như lặp lại kinh nghiệm của ông Gióp : “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về lòng đất cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng danh Chúa!” (G 1,21).
“Cha Bosco luôn luôn là một người cha tốt, tiếp nhận Mẹ Cả [Caterina Daghero] như thể ngài không còn ai khác để nghĩ đến nữa và để lại cho Sơ một lời tín nhiệm: ‘Chúng ta hãy ở lại với Thánh Tê-rê-sa: Không gì làm ta bối rối, không gì làm ta mất tinh thần’; và với Thánh Phao-lô: ‘Chúng ta hãy vui lên trong Chúa!’, đừng bao giờ quên rằng Đức Maria luôn là Mẹ và Đấng Phù Trợ của chúng ta” (cuốn IV, 235).
- Những lời của Cha Bosco nhắc lại kinh nghiệm của thánh Tê-rê-sa A-vi-la và những lời của thánh Phao-lô gửi tín hữu Phi-lip-phê: “Hãy vui lên trong Chúa, tôi nhắc lại: Vui lên anh em!” (Pl 4,4).
Tập sinh Luigia Vaschetti nhớ lại những lời Cha Bosco đã nói với các nhà truyền giáo:
“Cũng như các Tông đồ, sau khi đã làm nhiều việc lạ lùng và thực hiện những công việc vĩ đại vì vinh quang Thiên Chúa, đã tự gọi mình là đầy tớ vô dụng, cũng vậy, sau tất cả những công việc mà Chúa vui lòng thực hiện qua chúng ta, chúng ta phải xưng mình là tôi tớ khiêm nhường của Thiên Chúa, xác tín rằng mọi việc chúng ta làm là công trình của Thiên Chúa” (cuốn IV, 270).
- Chúa Giê-su nói với các môn đệ: “… Anh em cũng vậy, khi đã làm xong mọi việc theo lệnh truyền, hãy nói: Chúng tôi là đầy tớ vô dụng” (Lc 17,7-10).
Cha Bonetti - Giám đốc của Hội Dòng - gửi cộng đoàn Sicilia (1885):
“Hội Dòng cần [...] các nữ tu được đào luyện bằng tinh thần của Đức Giê-su Ki-tô. Đối với những nữ tu không có tư tưởng, tình cảm, lời nói, việc làm giống như Chúa Giê-su, không có tinh thần của Đấng Phu Quân trên trời, thì đến cuối đời Ngài sẽ đóng cửa Thiên Đàng và nói với họ rằng: Ta không biết ngươi” (cuốn V, 69).
- Những lời của Cha Bonetti rõ ràng là ám chỉ đến câu chuyện ngụ ngôn về mười cô trinh nữ, trong đó chàng rể đáp lại lời của những cô khờ dại: “Ta không biết các cô là ai” (x. Mt 25,1-12).
2. Tiểu sử do Ferdinando Maccono viết
2.1. Mô tả nguồn
Cuốn Tiểu sử do Cha Ferdinando Maccono viết: Thánh nữ Maria Domenica Mazzarello - Đấng đồng sáng lập và Bề trên tiên khởi của Hội dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ (2 voll.)314 là tài liệu được biên soạn rất tốt. Tiểu sử này được xây dựng phần lớn dựa trên những văn bản được thu thập trong quá trình phong Chân phước và phong Thánh cho Mẹ.315 Thật tiếc là chúng tôi không có một ấn bản phê bình về tài liệu này.316 Với tư cách là người viết tiểu sử và là Cáo thỉnh viên của án phong Thánh, Cha Ferdinando Maccono đã có cơ hội tiếp cận hầu hết các nguồn liên quan đến cuộc đời của Maria Domenica. Vì thế, công việc sâu rộng của ngài vẫn luôn là một nguồn tham chiếu, một nguồn kiến thức thực sự về vị Thánh vùng Mornese. Thực vậy, về cơ bản, phần lớn những người viết tiểu sử sau ngài và các tài liệu chính thức của chính Hội Dòng, đều dựa trên các bài viết của ngài, vì sự phong phú của những chứng từ và tài liệu được báo cáo trong đó.
Khi thực hiện công việc, dựa trên những tài liệu đầu tay và những lời khai đã thu thập được, Maccono đã tự đưa ra ba tiêu chí để soạn thảo văn bản: sự thật, tính trật tự và sự đơn giản. Sự thật nằm ở chỗ mọi thông tin đều dựa trên các tài liệu viết tay và in ấn, cũng như lời chứng của những người đã từng biết Tôi tớ Chúa. Tính trật tự muốn nói đến phương pháp dựa trên trình tự thời gian, đồng thời chủ yếu nhấn mạnh đến sự tăng triển trên đường nhân đức. Tác giả nói rằng: “Tôi thích làm cho người đọc nhận thấy những đức tính của nữ tu Maria Mazzarello được tỏ lộ trong suốt quá trình kể chuyện; dần dần Thánh nữ đã thực hành những đức tính này và đã đạt đến được sự hoàn thiện”.317 Sự đơn giản đề cập đến một phong cách viết dễ hiểu và phù hợp cho mọi người.
2.2. Những gợi hứng Kinh Thánh
Mẹ Mazzarello đã giúp các FMA chuẩn bị rước Chúa Giê-su Thánh Thể:
“Chúng ta phải tưởng tượng mình giống như người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp và xin Chúa Giê-su nước hằng sống để chúng ta không bao giờ khát nữa; người Ca-na-an coi mình là may mắn nếu chạm được vào gấu áo của Chúa Giê-su, thì chúng ta còn may mắn hơn biết bao khi đón nhận Người trong tâm hồn! Vì vậy, khi thức dậy sau đêm dài, chúng ta được trải qua những giờ phút thực sự của Thiên đường!” (cuốn II, 86).
- Gợi lên rõ ràng cuộc gặp gỡ của người phụ nữ Sa-ma-ri với Chúa Giê-su bên bờ giếng Gia-cóp (x. Ga 4, 1-42).
Cũng có một ám chỉ rõ ràng về người phụ nữ sờ vào gấu áo choàng của Chúa Giê-su (x. Mt 9,20-22).
Mẹ Mazzarello “khuyên chúng ta đừng hy vọng vào phần thưởng trần gian, mà hãy an ủi bản thân mình bằng ý nghĩ về thiên đàng” (cuốn II, 186).
- “Giờ đây, tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy; và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2Tm 4,8).
“Nhiều lần Mẹ nói với những người được trao phó cho mình rằng: mọi người có thể lấy đi mọi thứ của Mẹ, ngoại trừ trái tim yêu mến Chúa” (cuốn II, 194).
- “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8,35).
“Niềm vui của anh em, không ai lấy đi được” (Ga 16,22).
“Châm ngôn của Mẹ là những gì chúng ta làm cho người lân cận, chính là làm cho Chúa. Mẹ dạy chúng tôi nhìn thấy Chúa Giê-su trong các em học sinh, trong các chị em, nơi mọi người; dạy chúng tôi yêu thương tất cả không chỉ bằng lời, mà còn bằng gương sáng và hành động” (cuốn II, 199).
- Có sự quy chiếu Kinh Thánh hướng đến sự thống nhất của hai giới răn : “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1Ga 4,19-21).
“Thầy nói thật với anh em, bất cứ điều gì anh em làm cho một trong những người anh em nhỏ bé nhất của Thầy, là anh em làm cho chính Thầy” (Mt 25,40).
Dù có chống lại bao nhiêu thì tính tự ái cũng chỉ chết khi chúng ta chết. Như các thánh nói, nó chỉ chết một phần tư giờ sau khi chúng ta chết. Vì vậy, Mẹ thánh, người đã luôn mạnh mẽ chiến đấu chống lại tính tự ái của mình và dạy các nữ tu không chiều theo tính tự ái, đã luôn cảnh tỉnh các nữ tu để không ai chiều theo tính xấu đó. Mẹ luôn trông chừng đặc biệt các ứng sinh, vì theo lời của các Tông đồ, Mẹ biết rằng sự hiểu biết nếu không cẩn thận, sẽ phình to. Khoa học bùng nổ (cuốn II, 156-157).
- “Sự hiểu biết đó sinh lòng kiêu ngạo, còn lòng bác ái thì xây dựng” (1Cr 8,1).
Đức Giám mục Costamagna viết: “Thật quá nhiệt thành! Nó là hoa trái của lòng bác ái. Thực vậy, đây là câu châm ngôn tuyệt vời của Thánh Phao-lô: Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách chúng ta. Vì thế, Mẹ sẵn sàng nhận lấy những khó chịu, quấy nhiễu, trách móc, sỉ nhục để có thể đưa các linh hồn về với Chúa” (cuốn II, 289).
- “Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách chúng tôi!” (2Cr 5,14).
3. Bản tóm lược (Tổng hợp các chứng từ và tài liệu được thu thập trong tiến trình phong Chân phước và phong Thánh)
3.1. Mô tả nguồn
Bản tóm lược là nguồn thu thập các lời chứng trong quá trình phong Chân phước và phong Thánh,318 là một nguồn đặc biệt cho việc hiểu biết về Maria D. Mazzarello. Thực vậy, ký ức của những người đương thời và của những người sống bên cạnh Maria Domenica, cho phép chúng ta khám phá ra những nét tiêu biểu về dung mạo người nữ thánh hiến Sa-lê-diêng của Thánh nữ và cách Thánh nữ nhập thể Lời Chúa vào chính mình, đến độ một trong những nhân chứng có thể khẳng định: “Nơi Mẹ, người ta nhìn thấy một linh hồn tỏ bày về Thiên Chúa”.319
Các lời chứng nhằm “chứng minh” sự thánh thiện của đối tượng trên nền tảng của việc sống các nhân đức một cách anh hùng. Biến cố lịch sử - tâm linh của Maria Domenica được nổi bật nhờ lời kể của những người quen biết Thánh nữ, theo não trạng và cách cảm nhận của thời đại, nhưng dù sao cũng không kém phần chân thực. Ngoài ra, nguồn này còn bị ảnh hưởng từ ngôn ngữ cổ, đặc trưng của thời đó. Mục đích rất rõ ràng của nguồn này: là để xác minh tính anh hùng của các nhân đức và “chứng minh” sự thánh thiện của Maria Domenica Mazzarello.320
Các nhân chứng có vai trò quan trọng và quyết định trong tiến trình phong Thánh. Thật thú vị khi tập hợp lời chứng của những người đã biết và sống cùng Thánh nữ, vì chúng cho thấy các nhân chứng xác nhận rằng Thánh nữ là “Phúc Âm sống”, ngay cả khi các nhân chứng không minh nhiên trích dẫn Kinh Thánh. Dĩ nhiên cũng cần lưu ý đến việc đào tạo thiêng liêng và tôn giáo của mỗi nhân chứng. Một vài trong số các chứng từ cho thấy sự nhạy cảm với Kinh Thánh, thậm chí cả phong cách “nguyện xá” của Đức Giám mục Giovanni Cagliero, nhà thần học Kinh Thánh sâu sắc. Trên thực tế, phong cách “nguyện xá” trong chứng từ của ngài đã không được chú ý. Về chuyện này, người biện hộ trả lời:
“Không gì phải ngạc nhiên, bởi vì Đức Giám mục Cagliero là tông đồ và diễn giả vĩ đại, được đốt cháy bởi lòng nhiệt thành và rất linh hoạt trong Kinh Thánh. Những lời của ngài phù hợp với lời chứng của sách Tông đồ Công vụ. Điều này trên hết cần được xem xét vì ngài chỉ nói sự thật, đến nỗi mọi sự cường điệu đều nằm ngoài những lời khẳng định và tâm trí của các nhân chứng”.321
Mặt khác, phần lớn các nhân chứng không đề cập rõ ràng đến Lời Chúa, nhưng nhờ đọc chứng từ của họ, chúng ta có thể trực cảm được những gợi hứng Kinh Thánh.
3.2. Những gợi hứng Kinh Thánh
Lời chứng của Nữ tu Caterina Daghero về cái chết của Đầy Tớ Chúa:
“Trước khi Mẹ qua đời, nói đúng hơn là một ngày trước đó, một Hộ trực đã xin Mẹ lời khuyên, một lời dặn dò cho các Bề trên của Tổng Tu nghị và cho các cộng đoàn. Mẹ đã nói với các Bề trên: Các chị em hãy yêu thương nhau, đừng vui quá hay đau buồn quá, cho dẫu buồn vui nào xảy đến, chị em hãy luôn vui mừng trong Chúa” (448).
- “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì cả” (Pl 4,4-7).
Chứng từ của Sr. Enrichetta Sorbone về nhân đức anh hùng:
“Tôi dường như vẫn còn thấy Mẹ ở trong nhà thờ, hiệp lễ cách cung kính với tất cả sự sốt sắng, giống như thiên thần của tình yêu! Suốt ngày, khi Mẹ hiện diện giữa các chị em, hay khi ở phòng làm việc hoặc văn phòng, Mẹ dường như luôn mang Chúa Giê-su trong tim để lan truyền cho con cái và các thiếu nữ của Mẹ; mỗi khi Mẹ đi qua, chúng tôi đã cảm nhận được hương thơm của Chúa Giê-su” (150-151).
- “Tạ ơn Thiên Chúa, vì chúng tôi là hương thơm của Đức Ki-tô dâng kính Thiên Chúa, tỏa ra giữa những người được cứu độ cũng như những kẻ bị hư mất” (2Cr 2,14-15).
Chứng từ của Đức Giám mục Giovanni Cagliero về cuộc đời của Maria D. Mazzarello:
“Tinh thần mà Mẹ đã truyền cho các Nữ tu, Thỉnh sinh, Tập sinh, các em học sinh thời tiên khởi - có thể gọi một cách chính đáng là thời kỳ đẹp đẽ của sự đơn sơ thánh thiện, nhiệt tâm và đức tin, thời kỳ của nhân đức anh hùng, giai đoạn hoàng kim của Hội dòng mới thành lập – chính là một gia đình tu sĩ đích thực, như trong cộng đoàn Phúc Âm đầu tiên và giữa các Ki-tô hữu tiên khởi, nơi mà mọi người một lòng một ý. Chỉ có một tinh thần ngự trị giữa họ, chỉ có một trái tim yêu thương nhau, chỉ có một ý muốn để mọi người vâng theo. Chỉ có một ước muốn nên thánh và chỉ có một tình yêu dành cho Thiên Chúa, hướng về sự nghèo khó thánh thiện của Đức Giê-su Ki-tô, về đời sống hy sinh, cầu nguyện và làm việc” (119).
- • “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo mà chỉ có một lòng một ý” (Cv 4,32).
Chứng từ của Đức Giám mục Giovanni Cagliero về các nhân đức anh hùng nói chung:
“Những lời nói, lời khuyên và bài giảng của Mẹ đơn giản về cú pháp và cao cả về tư tưởng. Các lá thư Mẹ viết không phải bằng mực, nhưng bằng tinh thần của Thiên Chúa, biểu tỏ cho thấy nơi Người Tôi tớ Chúa một linh hồn được tuyển chọn, được tiêu hao vì đức ái Đức Giê-su Ki-tô, cũng giống như thư của thánh Phao-lô gửi đến giáo đoàn Cô-rin-tô, không viết bằng mực, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống. Các lá thư thấm đượm nơi các chị em tốt lành và các con cái thân yêu của Mẹ tình cảm và ước muốn tách họ ra khỏi thế giới, khỏi xác thịt và khỏi chính họ, lôi kéo họ đến với nhân đức và thánh hóa họ, dẫn đưa họ đến phục vụ Chàng Rể cao cả của mình, Người là cuộc sống của họ, là bình an và niềm vui vĩnh cửu của họ!” (133-134).
- “Rõ ràng anh em là bức thư của Đức Ki-tô được giao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (2Cr 3,3).
Chứng từ của nữ tu Caterina Mazzarello về niềm hy vọng anh hùng:
“Mẹ thường nói: ai hy vọng vào Chúa thì không bị hư mất và Mẹ luôn hạnh phúc” (178).
- “Ai hy vọng vào Ngài sẽ không thất vọng” (Tv 24,3).
Chứng từ của Đức Giám mục Giovanni Cagliero về đức khiết tịnh anh hùng:
“Nơi Mẹ, lời nói của Đấng Cứu Độ được chứng thực: “Phúc thay ai có lòng trong sạch, vì sẽ được thấy Thiên Chúa”; sự trong sạch của trái tim đã đưa Mẹ đến sự trong sạch của tâm hồn, vì những suy nghĩ của Mẹ trong sạch, trong sạch về tình cảm và trong sạch trong mọi hành động được làm vì Chúa và với Chúa!” (338).
- “Phúc thay ai có lòng trong sạch vì sẽ được thấy Thiên Chúa!” (Mt 5,8).
Chứng từ của Đức Giám mục Giovanni Cagliero về tình yêu anh hùng dành cho Chúa:
“Mẹ sống bằng cầu nguyện, lòng đạo đức và các Bí tích với lòng nhiệt thành và kiên trì, đến mức thu hút sự chú ý của ba mẹ, linh mục, cha giải tội, bạn đồng trang lứa và của tất cả những ai xem Mẹ không chỉ là một cô gái ngoan đạo, sùng đạo và nội tâm, mà còn của một người được ghi dấu bằng tình yêu thiêng liêng, sự kết hợp mật thiết và sự tiếp chạm với Thiên Chúa - Đấng mà Mẹ hoàn toàn yêu mến với trọn trái tim, trọn linh hồn, trên hết mọi sự và trên hết mọi tạo vật!” (225).
- “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn ngươi!” (Mt 22,35-37).
“Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4-5).
Chứng từ của Đức Giám mục Giovanni Cagliero về sự kết hợp tình yêu với Thiên Chúa:
“Sau đó, Mẹ đã sống, có thể nói, Mẹ mất hút trong Chúa! Cả khi hồi tâm cầu nguyện, khi bận rộn với công việc, khi Mẹ thức và cũng có thể nói khi Mẹ ngủ, giống như cô dâu của sách Diễm Ca - Kìa, tôi ngủ mà trái tim tôi thức!” (225).
“Tôi ngủ, nhưng lòng tôi chợt thức; có tiếng người tôi yêu gõ cửa […]” (Dc 5,2-6).
Chú thích
311 Da Memorie private di madre Enrichetta Sorbone, trong AGFMA FMA 2(874)10.
312 Hồi sử I 9.
313 “Chúng ta phải thừa nhận rằng Hội dòng FMA đã không có nhiều may mắn về mặt lịch sử, ngay từ đầu khi cố gắng viết lịch sử, cũng như khi nỗ lực thực hiện bộ Hồi sử. Hoặc nó không được ghi chép kỹ càng, hoặc vì ưu tiên cho người chỉnh sửa, mà có lẽ bỏ qua các dữ liệu và sự kiện lịch sử quan trọng” (Cavaglià Piera, Tappe della storiografia dell’Istituto delle FMA, trong Zimniak Stanislaw [biên tập], Storia e identità salesiana trong Africa e Madagascar, Roma, LAS 2012, 253).
314 Đc Maccono Ferdinando , Santa Maria Domenica Mazzarello. Confondatrice e prima Superiora Generale delle Figlie di Maria Ausiliatrice, 2 voll., Torino, Istituto FMA 1960.
315 Đc Anschau Petri, La santità di Maria Domenica Mazzarello 40-47.
316 Bản tiểu sử đầu tiên về Maria Domenica Mazzarello có từ năm 1911 nhân dịp công khai bắt đầu tiến trình phong Chân phước. Dần dần có thêm những văn bản cho qui trình thông tin thông thường, Maccono đã viết một cuốn tiểu sử đầy đủ hơn, được xuất bản vào năm 1913, để làm cho các Ki-tô hữu biết đến vị Bề trên Tổng quyền đầu tiên của Dòng FMA. Cuốn tiểu sử này đã có những lần xuất bản khác được cập nhật hơn nhiều dựa trên các tài liệu và các văn bản gửi cho tiến trình phong thánh (xuất bản lần II: 1934; xuất bản lần III: 1940; xuất bản lần IV, sau khi chết: 1960, 2 voll.).
317 Maccono, Suor Maria Mazzarello (1913) VI.
318 Tiến trình phong Chân phước và phong Thánh, theo nghĩa pháp lý của từ này, với các tài liệu liên quan (Deposizioni: Tài liệu lưu trữ trong công hàm; Atti notarili: Các chứng thư có công chứng ; Informationes: Các thông tin liên quan; Positio: Bản tường trình; Animadversiones: Các nhận định và quan sát; Responsiones: Các câu trả lời; Litterae postulatoriae: Thư thỉnh nguyện của Cáo thỉnh viên; Decreti: Các sắc lệnh (phong chân phước/phong thánh...) v.v., thường được Bộ Phong Thánh xuất bản trong một số đặc biệt được gọi là Summarium: Bản tóm tắt, đã ít được sử dụng trong quá khứ trong các lĩnh vực lịch sử và thần học. Chúng được sử dụng cho thủ tục pháp lý phong chân phước và phong thánh, và sau đó được đóng vào kho lưu trữ, theo luật, chúng phải được ký gửi. Thay vào đó, việc phong Chân phước và phong thánh - với tất cả các tài liệu cần thiết - có tầm quan trọng lớn đối với thần học tâm linh và để biết cuộc sống và tâm linh của một nhân vật thánh thiện. Trong lịch sử hiện đại và đương đại, tài liệu này có được tầm quan trọng đặc biệt bởi vì nó chứa đựng dữ liệu trực tiếp mà rất tiếc là tiểu sử hoặc các nguồn tường thuật khác không cho phép chúng ta biết trực tiếp.
319 Testimonianza di Enrichetta Sorbone, trong Summarium 224.
320 Đc Anschau Petri, La santità di Maria Domenica Mazzarello 116.
321 Responsio ad novas animadversiones, 10/06/1935, trong Sacra Rituum Congregatione, Nova positio super virtutibus 14.