FMA Logo

2. Trong dấu chỉ của mầu nhiệm Phục sinh



Eliane Anschau Petri

Cuộc đời của Maria Domenica và cộng đoàn tiên khởi tăng triển theo lô-gíc và năng động của mầu nhiệm Vượt qua, được hiểu như là cuộc vượt qua từ đau khổ đến niềm vui, từ sự chết đến sự sống. Việc quy chiếu về mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Giê-su và về những ảnh hưởng của nó trong đời sống của người Ki-tô dường như ít được tỏ lộ, vì không có gì đáng ngạc nhiên nếu ta nhớ lại bối cảnh thần học lúc bấy giờ: với xu hướng đạo đức thịnh hành quy về việc suy tư trên cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su hơn là suy tư về sự Phục sinh.341

Chính dưới ánh sáng của mầu nhiệm này mà chúng ta đọc ra nơi Mẹ Mazzarello và cộng đoàn tiên khởi, sự thành công trong sứ mạng, việc vượt qua những khó khăn và nghịch cảnh của cuộc sống, can đảm lội ngược dòng để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa một cách trung thành hơn bao giờ hết.

1. Sự khôn ngoan của thập giá

Maria Domenica sống cuộc đời và sứ mệnh của mình theo lô-gíc khôn ngoan của thập giá, mà đối với thế gian đó là sự điên rồ, nhưng đối với chúng ta lại là quyền năng của Thiên Chúa (x. 1Cr 1,18,22-24).

Vài tháng trước khi qua đời, khi viết thư cho nữ tu Giuseppina Pacotto, Mẹ Mazzarello đã kết luận rằng: “Đây là lời nhắc nhở cuối cùng Mẹ dành cho con: khi Thánh giá có vẻ nặng nề đối với con, hãy nhìn vào Thánh giá chúng ta đeo trên cổ mà nói: Ôi, Chúa Giê-su, Chúa là tất cả sức mạnh của con; với Chúa, gánh nặng trở nên nhẹ nhàng, mệt nhọc thành êm ái, gai góc hóa ngọt ngào” (Thư số 64,5). Thánh giá là chủ đề nền tảng trong linh đạo của Maria Domenica. Các nữ tu nhớ lại việc Mẹ thường nắm lấy cây Thánh giá đeo ở cổ và chỉ vào Chúa Giê-su: “Ngài ở đây” - rồi lật nó lại và chỉ vào mặt sau - “và chúng ta ở đây”. Cử chỉ đơn giản này thật sâu sắc và thuyết phục hơn một bài phát biểu hùng hồn. Mẹ đã khiến cho chúng ta hiểu một cách căn bản rằng việc nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô bị đóng đinh cần thiết đối với các FMA như thế nào. Mẹ thường nhắc các nữ tu rằng chúng ta là “Hiền thê của Chúa Giê-su chịu đóng đinh” (Thư số 45,2 và số 24,2).

Nhìn lên Thánh giá là nguồn sức mạnh và sự can đảm để đối mặt với cuộc sống hàng ngày trong niềm vui, dám lội ngược dòng để đáp lại lời mời gọi của Chúa một cách triệt để hơn bao giờ hết. Cách nói của Maria Domenica khi chỉ vào cây Thánh giá “Ngài ở đây”, nhấn mạnh rằng Thánh giá không chỉ đánh dấu cái chết của Chúa Giê-su, mà cả cuộc đời của Thánh nữ hướng về Thánh giá: “Thiên Chúa không muốn cứu chúng ta từ bên ngoài qua hành động cảm thương, qua bên ngoài nhân loại và lịch sử, nhưng muốn cứu từ bên trong bằng cách bước vào lịch sử qua việc xuống thế làm người. Người muốn sống trọn vẹn là “Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta” của mình, muốn sống sự liên đới hoàn hảo với con người”.342

Phần thứ hai của câu nói “chúng ta ở đây” chỉ ra rằng Thánh giá là nơi mà toàn thể nhân loại được bao bọc trong tình yêu thiêng liêng không có giới hạn. Đến bây giờ, không một người nào, kể cả những người xa rời Thiên Chúa nhất, có thể cảm thấy bị loại ra khỏi lời mời bước vào vương quốc của những người được cứu. Mọi người, ở bất kỳ khoảng cách nào với Thiên Chúa, đều có thể nhận ra khuôn mặt của Đức Ki-tô chịu đóng đinh và có thể được nên “đồng hình đồng dạng” với Người, nhận được khả năng và sức mạnh để bước theo Người và tích cực tham gia vào ơn cứu rỗi của chính mình. Mọi người, ngay cả những người ở xa Chúa, đều có thể bước theo Đức Ki-tô, vì Chúa Giê-su đã đứng về phía họ.343

Khi suy tư về linh đạo của Mẹ Mazzarello dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chịu đóng đinh, chúng ta có thể nắm bắt được một số yếu tố được xem là đặc trưng của phong cách Sa-lê-diêng trong việc đi theo thập giá: việc đi theo thập giá được thực hiện trong suốt cuộc đời và trong đời sống hằng ngày; việc đi theo thập giá được thực hiện trong các cuộc khủng hoảng được sống với niềm tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa; việc đi theo thập giá được sống như một cuộc lội ngược dòng để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa cách triệt để và mới mẻ.

2. Kinh nghiệm về thập giá trong cuộc sống hàng ngày

Kinh nghiệm thập giá trong cuộc đời của Maria Domenica và của cộng đoàn Mornese tiên khởi biểu tỏ qua cuộc sống hàng ngày theo nhiều cách: các thiếu nữ khó khăn bị thử thách nặng nề từ những bi kịch gia đình và kinh nghiệm mâu thuẫn, chẳng hạn như Corinna Arrigotti, Maria Belletti, Emma Ferrero; những phản đối và thiếu sót trong đào luyện; một vài hình thức thiếu trưởng thành; kinh nghiệm bệnh tật, những cái chết thường xuyên và còn rất trẻ; sự xấu hiện diện, v.v…

Tuy nhiên, ở Mornese, sống chiều kích “tử đạo hàng ngày” liên quan đến khía cạnh giáo dục của Hội dòng. Thực vậy, sống “tử đạo hàng ngày” là một cuộc đua thánh thiện thực sự, do các FMA tiên khởi đảm nhận, được truyền cảm hứng từ lòng dũng cảm của các vị tử đạo. Hồi sử khẳng định điều đó khi đề cập đến những đau khổ đủ kiểu hiện diện ở Mornese và sức mạnh của tâm hồn để tiếp nhận điều đó: “Lòng nhiệt thành lớn lao ngự trị trong cộng đoàn luôn đốt cháy chị em; cuộc đời các vị thánh và những khổ đau của các vị tử đạo được đọc chung hay đọc riêng, đều làm chị em dường như cảm thấy cuộc sống của mình quá tiện nghi, khiến chị em khát khao được tử đạo vì yêu, không phải vì đổ máu. Vì thế, chị em liên tục chộp lấy cơ hội của nhau để làm hy sinh và chiếm đoạt phúc tử đạo, trung thành theo đuổi việc hy sinh bằng mọi giá, theo dấu chân của vị thánh này hay vị thánh kia. Thật là một đời sống thiêng liêng sâu xa đến nỗi thân xác không phải lúc nào cũng chịu nổi”.344

Thật thế, dấu ấn của một cuộc “tử vì đạo” hàng ngày chính là đời sống cộng đoàn. Các hình thức tử đạo trong cộng đoàn đa dạng và có thể mang những tên gọi khác nhau: chịu đói, chịu khát, chịu khó khăn, bệnh tật, hiểu lầm, chịu chế nhạo của dân làng Mornese, chịu xáo trộn, v.v... Nữ tu Giselda Capetti lưu ý rằng tất cả những điều này đã ghi dấu ấn vào Hội dòng của thời nguyên thủy, “một ghi chú về sự hy sinh và gần như là tử vì đạo”.345

3. Khủng hoảng và tín thác vào Thiên Chúa

Khủng hoảng346 trong đời sống của người tín hữu là một kinh nghiệm thực sự về việc nên đồng hình đồng dạng với mầu nhiệm thập giá. Theo nhãn quan Kinh Thánh, con người không bị kết án để sống khủng hoảng và khủng hoảng cũng không là một trạng thái sống vĩnh viễn dành cho con người. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng gây bất ngờ cho người đó, cho đến khi bình minh của Phục sinh của người đó ló dạng.347

Hãy nghĩ về những trang đầu tiên của sách Sáng Thế khi mô tả cuộc khủng hoảng đầu tiên và quan trọng nhất của nhân loại, nhưng Chúa dẫn đưa tiến trình của cuộc khủng hoảng đến một kết quả tích cực: cuộc khủng hoảng nguyên thủy chấm hết với mầu nhiệm cứu chuộc của Đấng Thiên Sai.

Cuộc khủng hoảng của Áp-ra-ham là để đáp lại lời kêu gọi :Ra khỏi đất của ngươi” (St 12,1-2) và sát tế I-sa-ác (St 22,1-19); cuộc khủng hoảng của Môi-sê với sự xen kẽ giữa các giai đoạn tích cực và khó khăn (Xh, 3); Sa-mu-en, con người của “cuộc khủng hoảng triều đại”, Đa-vít với cuộc khủng hoảng khi đối mặt với các giá trị đạo đức, v.v... Tuy nhiên, “chòm sao” của các cuộc khủng hoảng cá nhân trong những câu chuyện Cựu Ước lan truyền một “ánh sáng đơn nhất”: là kết quả tích cực, có lợi. Một kết quả tích cực thuận lợi, ảnh hưởng đến nhân vật chính và những người cùng thời, một kết quả mà trong những viễn cảnh dài hơn được suy tư trong tương lai và trên toàn thể cộng đồng. Đây là chìa khóa thần học về niềm lạc quan hy vọng, được thúc đẩy bởi sự hiện hữu và bởi việc khám phá ra một kế hoạch cứu độ.348

Trong các sách Tân Ước, thông điệp về những cuộc khủng hoảng cá nhân thậm chí còn mang một màu sắc an ủi hơn: Maria thành Na-da-rét, người nữ “tiến về phía trước trong cuộc hành hương của đức tin”, 349 Gio-an Tẩy Giả - người bị mọi người cho là tự đặt mình vào khủng hoảng, Phê-rô - đánh mất lòng trung thành của mình vào thời điểm diễn ra cuộc thương khó, Phao-lô thành Tác-xô đã rơi vào cuộc khủng hoảng đức tin của mình: và ngay cả những cuộc khủng hoảng như vậy cũng là một quá trình chuyển đổi phục sinh.350 Đời sống thiêng liêng giúp khám phá ra những phép loại suy và rút ra những giáo lý khai sáng nhờ vào việc nghiên cứu lịch sử cứu độ, nhờ vào kinh nghiệm của những nhân vật trong Kinh Thánh, những người “với cái tên được lưu truyền mãi” (Hc 44,14).

Như vậy, hành trình của người Ki-tô hữu thuộc mọi thời đại được đánh dấu bằng thời điểm tích cực của cuộc khủng hoảng: thực vậy, hành trình của con người diễn tiến theo một đường tăng dần và phát triển. Với mỗi sự phát triển, khủng hoảng phát sinh, kích thích sự thăng tiến tâm linh và tiếp thêm sức sống cho nó. Đây là hành trình vượt qua của sự chết hướng tới sự sống.

Maria Mazzarello đã sống cuộc khủng hoảng của mình như giây phút của sự hoán cải, đưa Thánh nữ đến một cách sống mới trong tương quan với Thiên Chúa, được trực giác và được biết đến dưới một ánh sáng mới. Căn bệnh dịch tả đã hủy hoại sức khỏe của Thánh nữ: đây là cơ hội để Thánh nữ có được trải nghiệm sâu sắc về sự mỏng dòn, yếu đuối về thể lý, tâm lý và tinh thần. Đây là khoảnh khắc của sự bấp bênh, của bất an, của việc tìm kiếm động lực cuối cùng cho sự hiện hữu của mình. Nhưng đây cũng là thời điểm nhận biết cách ý thức về sự nghèo nàn của thụ tạo và sự tái thiết cái gì đó mới mẻ, thứ gì đó đã trở thành tâm điểm duy nhất của cuộc đời Thánh nữ. Thiên Chúa của sự thử thách, đã nhổ bật Thánh nữ ra khỏi “mảnh đất” của những điều chắc chắn và tham vọng cá nhân, giúp Thánh nữ đặt Chúa là lý do duy nhất để tồn tại và yêu cầu Thánh nữ phó thác với niềm tin tưởng: lời nguyện xin sau khi hồi phục cho thấy trạng thái tâm hồn của Thánh nữ: “Lạy Chúa, nhờ vào lòng tốt của Ngài, nếu cho con sống thêm vài năm cuộc đời, thì xin để mọi người quên con đi, ngoại trừ Ngài”.351 Đây là sự nhận biết sâu sắc về mình là loài thụ tạo, về niềm hy vọng không lay chuyển vào Chúa. Đây là nhãn quan mới của cuộc sống. Đây không phải là kiến thức về học thức duy lý, mà là kinh nghiệm về Thiên Chúa hiện tại; không phải là vấn đề gắn bó thuần túy trí thức với Chúa, mà là sống trong mầu nhiệm Vượt qua của Người: là kinh nghiệm thập giá. Các chân lý Tin Mừng xuất hiện dưới một ánh sáng mới: mọi hành động đều có một ý nghĩa mới và sâu xa.

Đối với Maria Mazzarello, đây là một cuộc khủng hoảng thực sự của niềm tin: tuy nhiên, đây không phải là quay lưng lại với Thiên Chúa, mà là chìm vào thế giới của Người; đi sâu vào sự hiểu biết về mầu nhiệm, điều không bao giờ có thể biết toàn bộ, nhưng biết đủ trong thời điểm đó đối với con người.

Khủng hoảng đích thực trong niềm hy vọng: nhưng nó cũng là sự tái đánh giá điều huyền nhiệm, điều vô hình và điều không thể cảm nhận được; là vượt lên trên những điều cần chinh phục và làm kinh nghiệm trong sự mong đợi những kinh nghiệm khác, hướng gần hơn tới sự hoàn thành cánh chung. Tuy nhiên, khủng hoảng đích thực trong Đức ái: đây không phải là khủng hoảng vì thiếu tình yêu đối với người thân cận, cũng không phải là vì thờ ơ với Thiên Chúa, mà là một sự thanh luyện huyền nhiệm, trong việc tìm kiếm để hướng tầm mức cuộc sống lên Thiên Chúa, Đấng là tình yêu (1Ga 4,16). Đây không phải là một “cuộc khủng hoảng trầm cảm”, mà là sự phát triển nghiêm túc mối quan hệ của bản thân với các nội dung thần học.

Maria Domenica đã vượt qua khủng hoảng bằng sự khôn ngoan và lạc quan, đồng thời nhận thấy kết quả tích cực của quá trình chuyển biến đầy mệt mỏi và khó chịu. “Thiên Chúa là Đấng trung tín: Người sẽ không để anh em bị thử thách quá sức; nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” (1Cr 10,13).

Chúng ta biết, qua những khủng hoảng hoặc những khô khan khác trong cuộc đời của Maria Domenica, chắc chắn Thánh nữ đã cảm nghiệm được thập giá và sự bỏ rơi của Thiên Chúa. Thật thế, trong một thời gian, Thánh nữ sống sự khô khan nguội lạnh thiêng liêng sâu xa đến nỗi không cảm thấy hương vị của cầu nguyện,352 cảm thấy như thể Chúa không tồn tại. Maccono viết: “Một mặt, Thánh nữ ấy cảm thấy bị lôi cuốn đến với Chúa Giê-su, mặt khác, lại bị kìm hãm bởi những suy nghĩ mà ma quỷ gieo vào tâm trí, bởi cảm giác thái quá về sự bất toàn và không xứng đáng của chính mình. Thánh nữ có thể nói chuyện với cha giải tội ngay lập tức, nhưng ma quỷ đã gieo vào đầu Thánh nữ rằng không nên lãng phí thời gian cho những việc như vậy. Vì thế, Thánh nữ đã trải qua một thời gian rất đau khổ về tinh thần và bắt đầu cảm thấy một cảm giác thờ ơ khác thường, mà trước đây chưa từng có. Thánh nữ cầu nguyện và không cảm thấy chút an ủi nào; Thánh nữ rước lễ và cảm thấy trái tim dường như trở nên lạnh như đá cẩm thạch; Thánh nữ vẫn thực hành lòng đạo đức như trước, nhưng những an ủi xưa kia đã biến mất: Chúa đã rút lui. Có phải Thánh nữ đã xúc phạm đến Chúa mà không hay biết chăng? Hay do tất cả những lời cầu nguyện đó đều quá phóng đại và có hại, hoặc là vô ích? Lập đi lập lại một thứ tạo ra sự nhàm chán, có lẽ việc rước Chúa Giê-su mỗi ngày cũng là lỗi phạm? Ai đã dám làm điều này? Đúng vậy, những người khác trong tình cảnh như Thánh nữ cũng vậy; khi Rước lễ lần đầu và thỉnh thoảng Thánh nữ mới rước lễ, lúc đó chẳng phải Thánh nữ đã cảm thấy một niềm vui rất sống động, một sự mãn nguyện khó tả sao? Tại sao bây giờ Thánh nữ không thử nữa, nếu không phải vì đã rước lễ quá thường xuyên? Vì vậy, đây là biện pháp khắc phục: rước lễ ít đi”.353

Một kinh nghiệm lặp lại việc Chúa Giê-su bị bỏ rơi trên thập giá: “Cha ơi, sao Cha bỏ con?! ” (Mc 15,24). Tiếng kêu ấy diễn tả tất cả nỗi cơ cực của Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa, đang đối diện với bi kịch của sự chết, một thực tại hoàn toàn đối lập với Chúa của sự sống. Maria Domenica tìm thấy sự soi sáng nơi cô bạn Petronilla của mình:

“Một ngày nọ, lòng nặng trĩu, Maria cảm thấy cần phải nói với bạn mình về điều đó, người này đã rất ngạc nhiên và khuyên Maria đừng bỏ bê việc rước lễ mà không nói điều đó với Cha Pestarino và hãy phó thác hoàn toàn cho ngài. Đây là lời khuyên tốt nhất và Maria thẳng thắn chấp nhận nó. Thánh nữ đã nói chuyện với cha giải tội và đã quen với việc vâng lời một cách mù quáng, như Thánh nữ đã từng khuyên nhủ những người bạn đồng trang lứa của mình vào thời điểm đó, Thánh nữ nhanh chóng thấy mình hoàn toàn thoát khỏi sự đắn đo. Sau đó, khi tâm sự với bạn mình, Thánh nữ cho biết: Mọi chuyện đã qua và mình lại bình tĩnh như trước. Mình đã đau khổ biết bao! Nhưng bây giờ mình đang hạnh phúc!”354

4. Lội ngược dòng như năng động lực phục sinh

Maria Domenica Mazzarello có một nội tâm mạnh mẽ, dồi dào sinh lực, táo bạo, quyết đoán, khả năng theo chủ nghĩa cấp tiến và lội ngược dòng, theo lô-gíc của các Mối phúc (x. Mt 5,3-12; Lc 6,20-23). Thực vậy, để sống các Mối phúc - Hiến chương của người Ki-tô hữu - là lội ngược dòng với thói quen và não trạng của xã hội ngày nay.

Trong cuộc đời, Maria Domenica đã phải đối mặt với đủ loại khó khăn và đau khổ. Ta nhận thấy ở nơi Mẹ một thái độ cao thượng, ung dung, thanh thản trước đau khổ. Không nạn nhân hóa hay bi kịch hóa, Mẹ biết chịu đựng cách thực tế với niềm hy vọng, thậm chí với một chút hài hước tinh tế, đó là dấu hiệu của một nội tâm mạnh mẽ, của sự hài hòa và khôn ngoan: “Chúng ta phải luôn hy sinh khi còn ở thế gian này; chúng ta hãy làm điều đó một cách sẵn sàng và vui vẻ” (Thư số 22,4). Không ít thời khắc trong cuộc đời của Mẹ, chúng ta thấy Mẹ nên đồng hình đồng dạng với mầu nhiệm thập giá, qua việc lội ngược dòng để đáp lại lời mời gọi của Chúa một cách triệt để.

Sau kinh nghiệm về lời ủy thác “Ta trao phó chúng cho con”, Mẹ cảm thấy được kêu gọi làm điều tốt cho các thanh thiếu nữ và cần phải học may, nên đã chấp nhận thử thách và lên đường, vượt qua sự tự ái và những lời chỉ trích tại Mornese: hai người phụ nữ đến với thợ may nam (chứ không phải thợ may nữ) để học nghề là một điều không hề bình thường vào thời đó: “Trong những ngôi làng nhỏ, nơi mọi người đều biết nhau, mọi điều mới lạ nhỏ nhặt đều tạo thành chủ đề của các lời bàn tán trong ngày cho mọi người; và chắc chắn tại Mornese đã nói về Maria và người bạn Petronilla, những người đã đến học nghề may. Nhưng cả hai không mảy may nghĩ đến điều đó, hai cô cố gắng học hỏi và hoàn thiện mình trong nghề, không chỉ để hoàn thành nghĩa vụ và làm vui lòng Chúa, mà còn với một ý định thầm kín là một ngày nào đó có thể sử dụng nó vì lợi ích của thanh thiếu nữ”.355 Sứ mệnh đẩy họ đi xa hơn: “Mong muốn làm điều tốt cho các thanh thiếu nữ đã trở thành một đòi hỏi”.356

Lịch sử của Hội dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ cũng được đánh dấu bởi sự năng động phục sinh. Cộng đoàn tiên khởi bắt đầu cuộc hành trình của mình với gánh nặng của những lời dự đoán bi quan về tương lai và sớm bị tấn công bởi những lời tiên tri về sự lụi tàn. Dân làng chế nhạo những thiếu nữ đã quyết định sống cùng nhau để cống hiến hết mình cho việc giáo dục Ki-tô giáo những người trẻ. “Ít nhiều thì người ta cũng nói rằng tất cả các cô thiếu nữ ấy đều bị điên và đáng được thương xót”.357 Đức Cha Andrea Scotton, người đã giảng tĩnh tâm tại Mornese năm 1873, đã thất vọng với Hội dòng mới và nói với Cha Bosco như sau: “Những cô gái đó học thức kém, quá nhiều điều họ không biết [...], họ sẽ không thành công; và do đó không đáng cho ngài tiếp tục quan tâm đến”.358 Cha Bosco, một người được Chúa soi sáng, đã nhìn xa hơn những khó khăn và tất cả những dự đoán quá phàm tục này. Cha Bosco ý thức rằng: mọi sự của Thiên Chúa đều bắt đầu từ những điều nhỏ bé và được ghi dấu bằng đau khổ và thập giá. Vào năm 1872, ngày đánh dấu việc thành lập Hội dòng, ngài đã nói với các nữ tu tiên khởi những lời này: “Trong số những cây bé nhỏ, có một cây rất thơm là cây cam tùng, thường được nhắc đến trong Kinh Thánh. Trong phụng vụ lễ các Trinh Nữ có ghi: Cam tùng của tôi tỏa hương thơm ngào ngạt, cây cam tùng của tôi tỏa ra một mùi nước hoa ngọt ngào! Nhưng các con có biết điều gì cần thiết để cam tùng có mùi thơm không? Nó phải được nghiền nát. Vì vậy, đừng hối tiếc khi phải chịu đựng. Ai chịu đau khổ vì Đức Giê-su Ki-tô thì cũng sẽ cùng Người hiển trị muôn đời”.359 Cây cam tùng bị đập dập là hình ảnh hùng hồn về mầu nhiệm vượt qua, tức là cuộc vượt qua từ cái chết đến sự sống. Nếu được sống trong tinh thần của đức tin, hy vọng và mạnh mẽ, thì những khó khăn, nghịch cảnh hay mâu thuẫn trong đời đều có thể trở thành cơ hội để trưởng thành, để lan tỏa hương thơm của tình yêu và cuộc sống. Hơn nữa, lời nói của Cha Bosco có sự hòa điệu sâu sắc với sách Tông đồ Công vụ. Thánh Lu-ca viết rằng sau khi bị bắt, bị đánh đập và đe dọa, các Tông đồ “rời khỏi Hội đường, vui mừng vì họ đã bị sỉ nhục vì danh Chúa Giê-su” (Cv 5,41).

Chúng ta thấy Maria Domenica đã vác Thánh giá khi đóng cửa cộng đoàn đầu tiên ở Mornese để đến Nizza Monferrato. Đó là một khoảnh khắc chia xa và đau đớn được sống theo lô-gíc của hy vọng: vì thiện ích và vì để bành trướng Hội dòng. Nói theo kiểu của con người, việc bỏ Mornese để đến Nizza có vẻ là một quyết định điên rồ, phi lý, ngớ ngẩn, sau tất cả những đau khổ và hiểu lầm mà trường nội trú phải gánh chịu. Tuy nhiên, Maria Domenica và cộng đoàn đầu tiên đã đọc sự chia ly đau đớn này dưới góc độ của đức tin và mầu nhiệm vượt qua. Cha Egidio Viganò viết: “Việc mở ra của tình yêu cho sự cấy ghép, chia ly và cho sự chết, được tháp nhập vào tinh thần Mornese, theo phong cách hoàn hảo và hiệu quả của Mẹ”.360

Trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời và trước những nghịch cảnh khác nhau, Maria Domenica đã biết bước đi giữa những gai nhọn, để người khác chỉ nhìn thấy hoa hồng. Điều này gợi nhớ đến một số lời tự thuật của Thánh Phao-lô, một tông đồ vĩ đại của sự khôn ngoan thập giá. “Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh, dù no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả” (Pl 4,12). Các FMA noi gương Mẹ Mazzarello, sẵn sàng chịu nóng, lạnh, đói, khổ, v.v…; sẵn sàng đứng trên bục giảng và sẵn sàng ra quét sân.

Cuộc đời của Maria Domenica và của cộng đoàn Mornese tiên khởi có thể được phản chiếu trong những lời này của Thánh Phao-lô: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2Cr 4,8-10). “Coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả” (2Cr 6,10).


Chú thích

341 Đc Posada, Storia e santità 91-92.

342 Ko Maria, Fondamento biblico-teologico dei temi della spiritualità di S. Maria D. Mazzarello, trong Deleidi Anita - Ko Maria, Sulle orme di Madre Mazzarello donna sapiente, Roma Istituto FMA 1988, 106.

343 Đc Ko Maria, Fondamento biblico-teologico dei temi della spiritualità di S. Maria D. Mazzarello 110.

344 Hồi sử III 252.

345 Capetti Giselda, Il cammino dell’Istituto nel corso di un secolo, Roma, Istituto FMA 1972, vol. I 30; Đc nt 41-43.

346 Trong từ vựng Hy Lạp, thuật ngữ khủng hoảng (Krisis) được ghi lại với nhiều ý nghĩa: đó là sự lựa chọn, bầu cử, năng lượng đặc biệt; là xét đoán, tranh chấp, tranh luận; là kết quả, giải pháp, thành công, v.v... Danh từ xuất phát từ động từ krino giàu ý nghĩa như: tôi phân biệt, tôi chọn hay thích hơn, tôi quyết định hay phán xét, tôi thiết lập hay giải quyết, tôi bước vào giai đoạn quyết định, v.v… Trong truyền thống tâm linh Ki-tô giáo, ý nghĩa cơ bản của khủng hoảng tập trung vào thực tại của việc quyết định và hoán cải. Do đó, hành trình của Ki-tô giáo mọi thời được đánh dấu bằng thời điểm tích cực của cuộc khủng hoảng: đó là một hành trình vượt qua của cái chết để hướng tới sự sống.

347 De Candido L., Crisi, trong Nuovo Dizionario di Spiritualità, De Fiores Stefano - Goffi Tullo (biên tập), Milano, Paoline 1979, 338.

348 Đc De Candido, Crisi 338-341.

349 Lumen Gentium 58.

350 Đc De Candido, Crisi 341-344

351 Maccono I 83-84.

352 Hồi sử III 301.

353 Maccono I 74- 75.

354 Maccono I 75.

355 Maccono I 92.

356 Maccono I 88.

357 Francesia Giovanni Battista, Suor Maria Mazzarello ed i primi due lustri delle Figlie di Maria Ausiliatrice, S. Benigno Canavese, SEI 1906, 96.

358 Maccono II 225.

359 Hồi sử I 305.

360 Viganò, Riscoprire lo spirito di Mornese 39.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026