FMA Logo

1. Giếng nước



 Ha Fong Maria KO

Giếng nước là vật thể có mối liên hệ sâu sắc với cuộc sống trong mọi nền văn hóa. Nó chứa một trong những chất quý giá, không thể thiếu cho sự tồn tại của con người: là nước. Sự tồn tại của nước để chu cấp cho nhu cầu của mọi người chính là một món quà khiêm tốn, vô tư và hào phóng của thiên nhiên. Giếng nước được đào xuống để chạm tới độ sâu bí ẩn của lòng đất, nó khiến ta liên tưởng tới sự tĩnh lặng ẩn tàng trong lòng đất thầm lặng của các nguồn mạch, vừa khiến ta nghĩ về bao công sức để đào giếng và kín múc nước. Giống như công trình của Thiên Chúa, con người đã sử dụng trí thông minh và khả năng thành thạo của mình để can thiệp vào công trình tạo dựng. Những cái giếng được đào xuống là biểu tượng của sự tiến bộ, của sự chuyển biến sang một giai đoạn mới của nền văn minh.

Trong sa mạc khô cằn ở vùng Cận Đông vào thời Kinh Thánh, các giếng nước là sự đảm bảo cho cuộc sống, cho hạnh phúc của con người và động vật. Các giếng nước nằm rải rác dọc theo các con đường sa mạc và trở thành tụ điểm của sự sống. Đối với một người du mục, phát hiện ra giếng nước là niềm vui lớn nhất. Đối với người cha, để lại giếng nước cho con cái là hành động yêu thương mạnh mẽ nhất, cao quý nhất. Giếng nước là quà tặng của sự sống, quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, quà tặng của trái đất khiêm nhường, quà tặng của sự khéo léo nơi con người, quà tặng của tổ tiên, quà tặng được sẻ chia với lòng biết ơn giữa những con người.

1. Các giếng nước trong Kinh Thánh

Kinh Thánh rất hay nói về các giếng nước, thường đặt chúng làm bối cảnh cho những trình thuật ý nghĩa. Chúng tôi trưng dẫn một số đoạn Kinh Thánh, trong đó các giếng nước chất chứa nhiều ý nghĩa biểu tượng.

Giếng nước, dấu chỉ chúc phúc của Thiên Chúa

Trong câu chuyện của sách Sáng Thế, giếng nước là dấu ấn cho những hành trình của các tổ phụ. Áp-ra-ham và I-sa-ác, sống ở Ghê-ra, họ đào những cái giếng (x. St26, 15-25) . Do thường xuyên xung đột với người Phi-li-tinh, I-sa-ác phải di chuyển xa hơn về phía nam, đến vùng ven sa mạc, hướng tới Bét-sai-đa. Ở đó, ông đào những cái giếng mới và khi phát hiện ra nguồn nước, ông biến nó thành lý do để hy vọng, ông cảm thấy được Chúa chúc phúc và nói: “Bây giờ Chúa đã ban cho chúng tôi không gian tự do để chúng tôi phát triển thịnh vượng trên đất nước” (St 26, 22) . Giếng nước đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời, một bước biến chuyển từ sự sống còn mong manh và bấp bênh của những người du mục đến một ngôi nhà ổn định, đến “không gian tự do” để phát triển và “hướng vọng” tới sự yên bình.

Trên hành trình đi trong sa mạc về đất hứa, dân Ít-ra-en đang mệt mỏi và phiền muộn thì tìm thấy một cái giếng và Chúa nói với Môi-sê: “Tập hợp mọi người lại với nhau và Ta sẽ cho họ nước”. Bấy giờ, dân Ít-ra-en tràn ngập niềm vui và hân hoan, hát bài ca hân hoan này: “Vọt lên đi nào, mạch giếng ơi! Các bạn hãy ca mừng giếng nước! Giếng xưa kia bậc thủ lãnh đã đào, hàng quyền quý của dân đã khơi bằng phủ việt, bằng quyền trượng các ngài! ” (Ds 21, 16-18) . Nước từ giếng mang lại cho người dân sự an toàn vì được Thiên Chúa đồng hành chăm sóc và mang lại sức mạnh để tiếp tục cuộc hành trình.

Giếng nước, chứ không phải bể chứa

Vào thời của các tiên tri, trước sự bất trung của dân chúng, lời của Chúa đặc biệt nghiêm khắc và gay gắt. Qua miệng Giê-rê-mi-a, Người tố cáo: “V ì dân Ta đã phạm hai tội: chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh để làm những bể chứa nứt rạn, không giữ được nước ” (Gr 2, 13) . Cái Bể chứa không để nước mới, nước trong lành chảy vào bên trong. Nước trong bể do mưa giữ lại có xu hướng ứ đọng, đục, bẩn và có mùi hôi. Những gì Ít-ra-en đào không chỉ là những bể chứa, mà là những “bể nứt”, hoàn toàn không có khả năng chứa nước. Mặt khác, giếng nước ẩn chứa một năng lượng đến từ sâu thẳm và nuôi dưỡng nó cách liên tục và dồi dào. Từ giếng chảy ra nước sự sống, luôn trong lành. Giếng nước đối lập với bể chứa nước. Ít-ra-en thích bể chứa hơn giếng nước, nên đã đưa ra một lựa chọn vô nghĩa, vô ơn và gian ác, vì thế Thiên Chúa đã tỏ ra kinh ngạc một cách đau đớn: “dân đã lìa bỏ Ta”.

Giếng nước, di sản của những người cha

Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của người cũng vậy ” (Ga 4, 12) . Người phụ nữ Sa-ma-ri tự hào chỉ cho Chúa Giê-su biết rằng cái giếng trước mặt họ là cơ nghiệp được Thiên Chúa ban cho nhà Gia-cóp. Giếng nước do tổ tiên đào làm lợi cho con cháu đời này qua đời khác. Đó là một di sản năng động, quan trọng, kết nối các thế hệ. Qua thời gian, cái giếng vẫn vậy, nhưng nước chảy vào thì luôn mới, có khả năng làm dịu cơn khát của tổ tiên và con cháu. Giếng nước kết nối ký ức về quá khứ và ước mơ về tương lai, là dấu hiệu của sự tiếp nối giữa các thế hệ, nói lên lòng biết ơn, trách nhiệm và hy vọng.

- Giếng nước, nơi hy vọng

Tại giếng nước, Thiên thần thông báo cho A-gar về dòng dõi của bà trong tương lai (St16, 7-14) . Giếng đó sẽ được gọi là La-cai-roi (nó có nghĩa là “Đấng hằng sống nhìn thấy tôi”) . Và bản thân A-gar, bị Áp-ra-ham đuổi ra ngoài, lạc lối và lang thang trong sa mạc, tuyệt vọng trước cái chết sắp xảy ra của con trai mình là Ít-ma-en, sẽ được một Thiên thần dẫn đến một giếng nước, dấu hiệu của sự cứu rỗi và hy vọng: “Thiên Chúa mở mắt cho nàng và nàng thấy một giếng nước ” (St21, 19) .

Giếng nước, nơi gặp gỡ

Giếng nước cũng là một giao lộ của cuộc sống, nơi gặp gỡ và giao lưu, nơi các mảnh đời đan kết với nhau, nơi người ngoại quốc trở thành bạn bè, nơi xin và cho nước, nơi thiết lập các mối quan hệ sâu sắc giữa các nhân vị, nơi diễn ra các cuộc đối thoại có sức biến đổi. Trong Cựu Ước, không ít cuộc gặp gỡ bên giếng nước đưa hai người tiến tới đời sống hôn nhân. Chia sẻ nước giếng cũng có nghĩa là chia sẻ cơm bánh, nhà cửa và sự sống.

· Người đầy tớ của Áp-ra-ham (St24, 15-20) gặp Rê-bec-ca, vợ tương lai của I-sa-ac, gần giếng nước. Cặp vợ chồng này sẽ sinh ra nhiều con cái, nhiều hơn sao trên trời và cát bãi biển. Giếng nước là nhân chứng và trung gian của cặp vợ chồng.

· “Khi Gia-cóp thấy Ra-khen […] tiến tới, ông lăn tảng đá ra khỏi

miệng giếng và cho cừu uống” (St 29, 10) : một cuộc gặp gỡ tình yêu sẽ được đánh dấu bằng hôn nhân.

· Khi Môi-sê chạy trốn khỏi vua Pha-ra-ôn, tại một giếng nước, ông đã bảo vệ các con gái của ông Lê-tro bị quấy rối từ những người chăn cừu và gặp cô dâu tương lai Zip-po-ra (Xh 2, 13-22) . Giếng nước là bằng chứng cho một hành động đoàn kết dẫn đến sự kết hợp của tình yêu.

Trong Tân Ước, cuộc gặp gỡ quan trọng nhất bên giếng nước đương nhiên là cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ Sa-ma-ri: một cuộc gặp gỡ có tính mạc khải, biến đổi và cứu độ (Ga 4, 1-42) . Người đàn bà đi ra giếng với chiếc bình rỗng và trở về lòng tràn ngập niềm vui.

- Giếng nước, nơi đặc biệt thân thương với phụ nữ

Người phụ nữ phản chiếu trong nước hình ảnh của chính mình, cuộc sống cũng bắt nguồn từ người nữ. Người nữ có cung lòng đầy khiêm tốn và ẩn chứa tiến độ phát triển của mầm sống mới, là công trình xây dựng thầm lặng của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa! Người phụ nữ thường lui tới nơi này, bởi vì múc nước là một phần công việc gia đình; và bởi vì tại giếng nước, người phụ nữ tìm thấy sự tương tác xã hội cách dễ dàng và mở rộng. Trong khi đàn ông coi quảng trường, cổng thành là nơi gặp gỡ của họ, thì phụ nữ tìm đến giếng nước, là một không gian của cuộc sống công cộng, một môi trường giao tiếp, tham gia và hội nhập, một dịp để hòa nhịp với các sự kiện của thế giới và của lịch sử. Các cuộc tranh luận văn hóa không được làm tại giếng nước, nhưng những sự kiện nhỏ và những trải nghiệm nhỏ trong cuộc sống hàng ngày thì lại được chia sẻ ở đó: niềm vui, nỗi đau, vấn đề, sự tò mò, mong muốn và ước mơ. Tại giếng nước có một không gian tự do để kết hợp giữa riêng tư với xã hội, cuộc sống cá nhân với cuộc sống cộng đồng, làm việc với sự nhàn rỗi.

Thật thú vị khi lưu ý rằng cả ở Na-da-rét và Ein Karem, những nơi gợi lại cuộc sống đơn sơ của Đức Maria, ngày nay người ta vẫn có thể tìm thấy một “trụ nước của Đức Trinh Nữ”. Trụ nước này không có tài liệu chứng thực, nhưng nó cho thấy truyền thống Ki-tô giáo nhìn nhận Đức Maria như thế nào: Mẹ cũng giống như bao phụ nữ cùng thời, những người hàng ngày đi lấy nước từ giếng hoặc từ đài phun nước của làng.

- Giếng nước, nơi làm việc của những con người khiêm tốn

Giếng nước là một nơi thoáng đãng, không được đặt ở trung tâm chính trị hay thương mại của thành phố, mà ở giữa vùng nông thôn, làng mạc, trong khuôn viên đời sống gia đình. Nó không gợi lại những tình huống đặc biệt hay những lễ kỷ niệm đặc biệt, mà gắn liền với cuộc sống lao động, với những nhu cầu cơ bản và thiết yếu của cuộc sống hàng ngày, với những lối sống bình dị của người bình dân. Ngay cả các tình tiết trong Kinh Thánh, những người đến giếng nước thường là những người cảm thấy bấp bênh, thiếu thốn, tìm kiếm thứ gì đó, sẵn sàng nhận và cho đi những gì ít ỏi mà họ có, nhưng thường thì đây chính là nơi mà Chúa thích can thiệp, đổ đầy nước hằng sống vào những chiếc bình rỗng.

- Giếng nước, nơi tái tạo

Đối với các vị Tổ phụ, đào được giếng tức là được an cư, có nhà đảm bảo ấm no. Tuy nhiên, giếng nước không bao giờ là điểm đến cuối cùng, mà là nơi tái tạo năng lượng, là điểm tái xuất phát. Sau khi gặp nhau bên giếng, các Tổ phụ ra đi để sống một cuộc đời mới, nhờ sự phù hộ và đồng hành của Chúa. Đã xảy ra như thế sau cuộc gặp gỡ tại giếng Si-car: người đàn bà chạy đi để loan báo kinh nghiệm của mình cho những người cùng làng và Chúa Giê-su lại ra đi để tiếp tục sứ mệnh của mình trên thế giới. Giếng nước không phải là một nơi đóng kín, không phải là một nơi ở cố định: nó là một nguồn sống, một nguồn năng lượng mà mọi người mang trong tim, để hành hương vào trong thế giới và trong lịch sử.

2. Giếng nước tại Mornese

Trong lịch sử linh đạo Ki-tô giáo, hình ảnh giếng nước chiếm một vị trí nổi bật. Ví dụ, hãy nghĩ về những cái giếng cổ điển của các Tu viện và Đan viện, thường thì chúng nằm ở trung tâm của Tu viện. Chúng có một chức năng cụ thể, nhưng trên hết là, chúng gợi lên một giá trị biểu tượng.

Trong môi trường sống của Maria Mazzarello có hai giếng nước bê tông, vẫn được sử dụng và mang đầy ý nghĩa tượng trưng.

Đầu tiên là giếng nước ở Valponasca, nơi gia đình định cư khi Maria Domenica 11 tuổi. Trong suốt 10 năm sống trong ngôi nhà trang trại đơn độc trên đồi, từ sớm tinh mơ, cô bé đi bộ khoảng một giờ đồng hồ để tham dự Thánh Lễ tại giáo xứ, bất kể thời tiết và mùa nào. Để không làm cho những cuộc gặp gỡ hàng ngày với Chúa trở thành gánh nặng cho gia đình, cô bé thức dậy từ rất sớm và chạy xuống con đường dốc tối tăm, đến giếng nước dưới chân đồi để múc nước cần dùng đủ cho cả ngày. Vì thế, giếng nước này là bằng chứng của tình yêu mãnh liệt của Thánh nữ dành cho Thiên Chúa và cho gia đình, nó là biểu tượng của lao động cần mẫn, sự bền bỉ, sự quan tâm chu đáo, vốn là đặc nét của Maria Domenica từ thời còn trẻ. Nó cũng gợi lên hình ảnh người phụ nữ mạnh mẽ được mô tả ở cuối sách Châm Ngôn, người đógiám sát tiến độ nhà mình ” (Cn 31, 27) dậy khi trời còn tối ” (31, 15) để cung cấp cho các nhu cầu của gia đình.

Giếng nước thứ hai nằm ở trung tâm của ngôi nhà thành lập Hội dòng, tại “Collegio ” (Lưu xá) của Mornese. Đó là giếng nước mà các Nữ Tu Con Đức Mẹ Phù Hộ đầu tiên múc nước cùng với Mẹ Mazzarello. Nó phản ánh về một cộng đoàn thanh thản, đoàn kết trong tinh thần gia đình, chứng nhân cho một cuộc sống giản dị, nơi sự nghèo khó được sống trong niềm vui, công việc được thực hiện với trách nhiệm chung, dũng cảm và tin tưởng đối diện với khó khăn, được nâng đỡ nhờ các mối quan hệ cởi mở, chân thành và trong sáng. Vị trí của giếng nước nằm ở trong sân, cạnh nhà nguyện, là dấu hiệu của sự kết hợp hài hòa giữa chiêm niệm và hành động, giữa tình yêu Chúa và tha nhân, giữa làm việc và giải trí, giữa hy sinh và niềm vui, giữa chiều sâu của đời sống thiêng liêng và sự thông minh thực tế trong các công việc nội trợ. Nó cũng là nơi của sự thánh thiện hàng ngày, của sự can đảm đương đầu với những thách đố và khó khăn, nơi của những can thiệp sư phạm, của sự đồng hành giáo dục, của hoa trái tông đồ và lòng nhiệt thành truyền giáo, nơi tiếp tục bản Magnificat của Đức Maria.737

Giếng nước tại Collegio Mornese gợi lại giếng nước Si-car ở Sa-ma-ri, nơi Chúa Giê-su gặp người phụ nữ Sa-ma-ri. Trình thuật Tin Mừng này chắc hẳn đã in sâu vào trí óc và trái tim của Mẹ Mazzarello, đến nỗi Mẹ đã nhắc lại nó trong cuộc nói chuyện với các chị em: “Chúng ta phải tưởng tượng mình giống như người phụ nữ Sa-ma-ri bên giếng nước Gia-cóp và xin Chúa Giê-su nước hằng sống để không bao giờ khát nữa”.738 Mẹ nói tiếp: “Chúng ta phải nghĩ rằng Chúa Giê-su đang chờ đợi chúng ta như người phụ nữ Sa-ma-ri đã chờ đợi bên bờ giếng Gia-cóp: Người chờ đợi chúng ta vì Người muốn đi vào trong chúng ta và ban cho chúng ta những ân sủng của Người; và chúng ta phải nhanh chóng đến với Người cùng những ước muốn tha thiết nhất của trái tim chúng ta”.739 Hình ảnh Chúa Giê-su ngồi bên giếng đợi ban nước hằng sống chắc hẳn đã là nguồn cảm hứng sâu xa cho Mẹ Mazzarello và cũng tiếp tục diễn ra như vậy đối với FMA chúng ta, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ngày nay, dù đã được tái tạo và trùng tu, giếng nước trong sân của “Collegio” vẫn là biểu tượng của “tinh thần Mornese”. Hàng năm, nhiều FMA, một mình hoặc theo nhóm, từ các nơi khác nhau trên thế giới, lần đầu tiên đến hoặc quay trở lại đó do sự quyến rũ của nó, để kín múc từ nguồn nước vô tận này tinh thần đã cư ngụ nơi Mẹ Thánh của họ, để rồi lại lên đường, đổi mới và củng cố cho sứ mệnh của mình trên thế giới. Các nhóm trong Gia đình Sa-lê-diêng, tu sĩ và giáo dân, cùng đông đảo người trẻ cũng dừng lại bên giếng, những người bị thu hút bởi M. D. Mazzarello, bởi “tinh thần Mornese”, bởi Chúa Giê-su, Đấng đã từng dừng chân bên giếng nước và ngày nay vẫn tiếp tục ban tặng nước hằng sống cho ai muốn nhận.

Giếng Mornese cũng được sao chép hình dáng và hiện diện trong nhiều ngôi nhà của FMA trên năm châu lục. Đây là một biểu tượng hùng hồn tiếp tục kết nối các FMA với tinh thần của nguồn cội. Đây là dấu chỉ cho thấy ân ban của nước đã trở thành mạch nước làm trào dâng sự sống đời đời (x. Ga 4, 14) .

3. Trụ nước Valdocco

Ở Valdocco, vào thời Cha Bosco, không có giếng nước, nhưng có một đài phun nước (fontana), hay đúng hơn là một trụ nước. Sau một thế kỷ rưỡi, bất chấp mọi sự tái thiết và thay đổi, trụ nước vẫn tồn tại, sống động và kiên cường. Nếu chúng ta nhìn kỹ vào khoảng sân đầu tiên của Valdocco, đối diện với những cây cột tạo nên hàng hiên phía trước nhà nguyện Pinardi, ta sẽ tìm thấy trụ nước. Nó vẫn ở đó để nói về những thời điểm ngày nào cách âm thầm, làm chứng cho tinh thần chân chính của nguồn cội.

Cha Bosco coi trụ nước đó là một điểm qui chiếu có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt cho việc giáo dục của ngài. Điều này được cha Giuseppe Vespignani, một linh mục gốc Ravenna - xác nhận. Ở tuổi đôi mươi, cha đã đến Valdocco vào năm 1876 để trở thành một Sa-lê-diêng. Được Cha Bosco tiếp nhận ngay, cha Giuseppe Vespignani tốt lành chắc chắn không bao giờ rời bỏ: ngài trở thành thư ký của Cha Rua và được giao cho một lớp giáo lý “nhỏ” khoảng 120 cậu bé chừng 12 tuổi! Chúng ta có thể hình dung nỗi sợ hãi của cha Vespignani tội nghiệp!

Vào Chúa nhật đầu tiên, ngài dạy bài một cách tận tâm, ngài chuẩn bị sẵn nội dung với ba điểm, như đã được dạy trong trường dòng, nhưng hôm đó lại là một ngày thảm họa thực sự: ồn ào và náo động, một sự huyên náo không thể kiềm chế được. Cha Giuseppe chạy đến gặp Cha Rua. Cha Rua động viên ngài bằng cách mời ngài thử lại vào Chúa nhật tuần sau. Một lần nữa lại thất bại hoàn toàn! Lúc này cha Giuseppe chỉ còn một việc phải làm: trèo lên cầu thang và gõ cửa phòng làm việc của Cha Bosco để xin ý kiến ​​của người cha nhân lành. Chúng ta hãy trực tiếp nghe câu chuyện của người Sa-lê-diêng trẻ tuổi:740

“Vì vậy, tôi đã chạy đến Cha Bosco, giải thích cho ngài về hai lần thất bại và bày tỏ sự nghi ngờ của tôi về sự kém cỏi của mình trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính của người Sa-lê-diêng, chẳng hạn như dạy giáo lý cho các cậu bé và dạy học. Cha Bosco mỉm cười hỏi tôi tại sao tôi lại sợ hãi như vậy vì hàng trăm cậu bé, những đứa trẻ ngoan và háo hức lắng nghe tôi và học hỏi. Mọi khó khăn đều là do giữa tôi và bọn trẻ không biết lẫn nhau.

- Con sẽ làm thế nào để biết chúng và làm cho mình được biết đến?

- Ôi thật đẹp! Con hãy hiện diện cùng với chúng, đối xử thân tình với chúng, hành động như một người trong số chúng.

- Nhưng ở đâu và khi nào thì con hiện diện với chúng? Con sinh ra rất yếu, không thể chơi, chạy, cười như bè bạn với chúng; bệnh tật của con, sự yếu đuối của lồng ngực luôn ngăn cản con.

- Hãy đi đến trụ nước. Ở đó vào giờ ăn sáng, con sẽ thấy nhiều thanh niên tụ tập uống rượu, nói chuyện về học hành, trường lớp, chơi đùa, chiến thuật. Hãy giới thiệu bản thân, kết bạn với chúng, rồi con sẽ chinh phục lại được chúng và con sẽ thành công.

Lời đề nghị đã giúp tôi sống lại, mặc dù lúc đó tôi không hiểu hết tầm quan trọng của nó. Tôi quyết tâm làm như Cha Bosco đã khuyên. Đến giờ ăn sáng, tôi dừng lại gần trụ nước của giếng cổ ở nhà Pinardi. Bây giờ trụ nước vẫn còn tồn tại, mặc dù ngày nay nó bơm nước tinh khiết từ trên cao xuống, chứ không còn được kéo nước từ dưới lòng đất lên.

Vào thời đó, bữa sáng nổi tiếng là “ổ bánh mì”, được phân phát cho những người trẻ khi chúng rời nhà thờ. Sau khi nhận được, chúng chạy đến trụ nước để ngấu nghiến; sau đó chúng tản ra, sớm hay muộn, vào sân trong, say sưa với các trò chơi của mình. Trụ nước đó gần với phòng hội họp, là điểm chiến lược mà Cha Bosco đã chỉ cho tôi.

Vì vậy, tôi đang ở vị trí quan sát của mình, tôi gần như có thể nói là ở giếng Gia-cóp của tôi. Tôi chầm chậm tản bộ dưới hàng hiên mà không rời mắt khỏi trụ nước và những vị khách quen của nó, những đứa trẻ ùa đến đó từng đàn với bánh mì trên tay. Trong khi một số trẻ uống rượu, những trẻ khác trò chuyện về bài học, bài tập về nhà, điểm hạnh kiểm, các môn học ở trường, một số em nói về những khó khăn gặp phải như là về ước vọng của họ mà không hề giấu giếm về ơn gọi của mình. Tôi đến gần, bắt chuyện, đặt câu hỏi về các vấn đề được học trong ngày, hỏi xem ai giỏi nhất môn này hay môn kia, tôi đi xa hơn là đặt câu hỏi về giáo lý và tôi dần dần thấy một đá, những cậu bé nghịch ngợm quấy rối rất nhiều trong lớp đã vây quanh tôi và tất cả họ đều trả lời rất to câu hỏi của tôi. Lấy lại tự tin, tôi hỏi lý do của tiếng ồn đó trong giờ học giáo lý. Có một số lời giải thích, tuy nhiên, từ đó tôi hiểu rằng chúng tôi không biết nhau và vì thế chúng tôi không thể hợp nhau. Vài buổi sáng sau đó, trở lại phòng hội, tôi thấy chúng vây quanh tôi với một sự tự do nhất định, điều này chứng tỏ chúng sẵn sàng lắng nghe”.

Một cái giếng nước ở Mornese và một cái trụ nước ở Valdocco, những nguồn nước trong sân, nơi tụ tập của những người trẻ tràn đầy sức sống: cả hai đều là những biểu tượng khiêm tốn và mạnh mẽ, có khả năng “đánh thức lại sự tươi mát ban đầu của việc sản sinh ơn gọi”.741 Đặc biệt là giếng nước Mornese, trong suốt 150 năm đã lưu giữ ký ức về một nhóm phụ nữ đơn sơ và táo bạo, về một đoàn sủng đầy sức sản sinh, về sự hiện diện mang tính ngôn sứ, về một tinh thần năng động và sâu sắc, giờ đây đã lan rộng ra khắp năm châu lôi cuốn hàng hàng lớp lớp người trẻ, tinh thần ấy vẫn tiếp tục cho đến ngày nay và trong tương lai, để mang đến nguồn nước sâu vô tận, khơi dậy óc sáng tạo và làm vang dội lời khuyến khích của Mẹ Mazzarello: “Vì vậy, hãy luôn vui vẻ, [...] chúng ta hãy tiến lên với một trái tim rộng lớn và quảng đại” (Thư số 47, 12) .


Chú thích

737 Đc HL 62.

738 Maccono II 86.

739 Maccono II 136.

740 Vespasiano Giuseppe, Un anno alla scuola del Beato Don Bosco (1876-1877), Torino, SEI 1930, 68-69.

741 Đây là mục tiêu của Tổng Tu Nghị XXIV của Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, được cử hành vào năm 2021.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026