10. Ý hướng cánh chung của đời sống
Eliane Anschau Petri
Một nét Kinh Thánh làm nên nét đặc trưng cho đời sống và linh đạo của Maria Domenica là ý hướng cánh chung của cuộc sống. Thánh nữ là một người nữ dần dần học cách nhìn cuộc sống của mình và tất cả thực tại từ góc độ cùng đích: chính là Thiên đàng. Bằng cuộc sống, Thánh nữ đã làm chứng cho điều mà Cha Bosco đã cố gắng truyền lại cho những đứa trẻ của mình ngay từ khi còn nhỏ, đó là chúng ta “được tạo dựng cho Thiên đàng”.437 Vì vậy, cuộc đời của Thánh nhân vùng Mornese hoàn toàn hướng tới tương lai, hướng tới cánh chung. Thánh nữ quan niệm cuộc đời là sự mong chờ cõi vĩnh hằng. Thực vậy, qua nhân đức đối thần của niềm trông cậy, người Ki-tô hữu lãnh nhận nơi Bí tích Rửa tội một khuynh hướng năng động hướng về sự sống đời sau: đó là sự hiệp thông trọn vẹn và dứt khoát với Thiên Chúa. Thật vậy, niềm trông cậy là nhân đức của con người trên hành trình hướng tới đời sống vĩnh cửu.
1. Sự ngắn ngủi và mỏng dòn của cuộc sống
Maria Domenica sống với ý thức rằng thời gian nằm trong tay Chúa và được ban cho chúng ta để sống tốt và làm điều tốt. Mẹ viết cho các nữ tu: “Hãy làm điều tốt khi vẫn còn thời gian” (Thư số 37,11). Thời gian, khi được sống một cách mãnh liệt, tập trung, dường như thu hẹp tầm với cũng như khoảng cách: “Việc nhận các lá thư từ các chị em ở các nhà khác nhau luôn làm Mẹ thích thú, nhưng các thư Mẹ nhận từ Mỹ châu làm cho Mẹ cảm thấy một điều gì đó mà Mẹ không thể giải thích được; thời gian và khoảng cách thay vì giảm bớt thì dường như lại gia tăng sự thánh thiện và tình cảm thực sự mà Mẹ có đối với mỗi người chúng con” (Thư số 40,1). Maria Domenica hướng dẫn chúng ta hãy sống trọn vẹn thời gian hiện tại, đừng lãng phí và đừng để vuột mất, nhưng hãy sử dụng thời gian một cách hữu ích.
Với một nữ tu trẻ, Mẹ khuyên: “Không cần nói về tương lai, bây giờ con hãy chỉ nên nghĩ tới việc hoàn thiện bản thân về đàng nhân đức, về công việc, trong học tập, rồi sẽ đến thời để con làm việc hy sinh. Con hãy cứ an tâm tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho con sức mạnh cần thiết để con thực thi thánh ý Người” (Thư số 45,1). Thành ngữ “không nghĩ đến tương lai” không có nghĩa là thờ ơ với kế hoạch của Thiên Chúa, mà là tập trung vào điều thiết yếu bằng cách sống trọn vẹn hiện tại - giây phút duy nhất thực sự thuộc về chúng ta - với ý thức rằng tương lai nằm trong tay Chúa. Thị kiến về thời gian và những lời khuyến khích của Mẹ Mazzarello dường như gợi lại dụ ngôn người giàu có ngu ngốc trong Tin Mừng, người có một vụ mùa bội thu để tùy ý sử dụng và không biết đặt nó ở đâu, ông đã nghĩ đến việc xây dựng những kho lẫm mới và giữ tất cả, bảo vệ tài sản của mình trong nhiều năm, tuy nhiên, không hề nghĩ rằng vào ngày nào đó, mạng sống của ông sẽ sẽ bị lấy đi (x. Lc 12,13-21). Ông nhà giàu đã lãng phí thời gian của mình cho những thứ trần thế và bỏ quên điều quan trọng nhất: mối tương quan của ông với Thiên Chúa, Chúa của sự sống và của lịch sử.
Ngay cả đối với Maria Mazzarello, thời gian cũng là điều gì đó khiến Mẹ rất mệt mỏi và đòi hỏi nhiều sức lực. Mẹ cũng đau khổ vì thiếu thời gian để liên lạc với các chị em: “Con xin chúc cha những ngày lễ vui vẻ, giá mà con được ở gần cha hơn, nhưng cha ở tận Tân Thế Giới!... mà, khi những lời chúc mừng của chúng con gởi tới cha, thì lễ Giáng Sinh đã trôi vào dĩ vãng” (Thư số 4,1).
“Con thân mến của Mẹ, Mẹ không có chút thời gian rảnh nào, Mẹ có biết bao việc phải làm, và cả bây giờ, con hãy kiên nhẫn nếu Mẹ chỉ viết rất ngắn thôi” (Thư số 24,1).
Tốc độ thời gian trôi qua thúc đẩy Maria Domenica sống với cường độ và chiều sâu hơn nữa: “Thời gian trôi qua nhanh quá! Chúng ta thực sự cần phải lợi dụng để chiếm được nhiều công nghiệp, như thế chúng ta sẽ được sẵn sàng khi Thiên Chúa gọi” (Thư số 17,1). “Các con hãy nghĩ rằng thời gian trôi qua tại Mỹ thì cũng như tại Ý, chúng ta sẽ sớm gặp nhau vào giờ phải quyết định cho số phận của chúng ta” (Thư số 40,3).
Liên kết với chiều kích thời gian là cảm giác về sự ngắn ngủi và bấp bênh của cuộc sống. Mẹ diễn đạt điều đó nhiều lần và gần như với những từ giống nhau: “Cuộc đời này thật ngắn ngủi; sẽ sớm đến ngày chúng ta gặp lại nhau trong cõi vĩnh hằng” (Thư số 22,1); “Can đảm lên, các con của Mẹ, cuộc sống này trôi qua nhanh chóng và khi chết chỉ còn lại những việc làm tốt “ (Thư số 26,1); “Cuộc sống này qua mau lắm, vào giờ chết, ta sẽ hài lòng về những hãm mình, những chiến đấu, những chống trả ta đã làm để chống lại tính tự ái và chống lại chính con người chúng ta” (Thư số 28,5); “Can đảm lên, cuộc đời này thì vắn vỏi và [trong] thời gian ngắn ngủi đó, chúng ta hãy lo chiếm đoạt được những kho báu cho Thiên đàng” (Thư số 34,2). Thời gian được ban cho chúng ta để thánh hóa và cứu rỗi các linh hồn: “Con hãy thưa với Chúa cho con thời gian để con làm thánh và chiếm được nhiều linh hồn khác nữa” (Thư số 19,2).
Những tư tưởng đề cập đến sự ngắn ngủi của cuộc đời trong các lá thư của Mẹ Mazzarello khiến chúng ta nghĩ đến những lời của Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90,12); Chúng khiến chúng ta liên tưởng đến Kinh Thánh, cuộc sống con người được ví như hơi thở (x. Tv 144,4), như đám cỏ bị cắt và khô héo trong một ngày (x. Tv 89,6). Số ngày đời chúng ta không phụ thuộc vào chúng ta nhưng phụ thuộc vào chất lượng ngày sống. Trong kinh nghiệm của Maria Domenica Mazzarello, cảm giác về thời gian và sự bấp bênh của cuộc sống được thêm vào với ý nghĩa của đau khổ. Các chứng từ về ý nghĩa thực sự của Ki-tô giáo về đau khổ, không hệ tại ở việc tiếp nhận đau khổ cách chịu đựng, nhưng như một sự tham gia vào cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô. Thực ra, Mẹ đề nghị là “thánh hóa mọi hành động và đau khổ của chúng ta”, với niềm xác tín rằng “Chúa sẽ hết sức quan tâm đến mọi hành vi nhân đức nhỏ bé và những đau khổ của chúng ta”.438 Mẹ biểu tỏ mình là một phụ nữ biết nhân bản hóa cuộc sống bên trong những đau khổ; và như một người Ki-tô hữu đích thực biết đón nhận “Tin Mừng của đau khổ”, tìm thấy nguồn an ủi nơi Thập giá Đức Ki-tô. Mẹ diễn tả điều đó một cách đơn giản và rõ ràng trong các lá thư của mình: “Thực sự các con có ít nhiều phiền toái và đôi khi có lúc buồn lòng, nhưng Chúa muốn chúng ta mang một chút thập giá ở thế gian này. Chính Ngài đã nêu gương chịu đau khổ trước cho chúng ta, do vậy, với sự can đảm, chúng ta hãy bước theo Ngài trong việc chấp nhận đau khổ cách vô điều kiện” (Thư số 39,4). Đau khổ có ý nghĩa vì nó được liên kết với Thiên đàng: “Chúng ta trở thành nữ tu là để bảo đảm cho chúng ta nước Thiên đàng, nhưng để chiếm được Thiên đàng thì cần có những hy sinh; chúng ta hãy mang lấy thập giá với sự can đảm và một ngày kia chúng ta sẽ được hạnh phúc” (Thư số 25,5). Để đau khổ thực sự trở thành một kinh nghiệm cứu độ, nó phải được sống trong một hành trình nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô chịu đóng đinh: “Khi nào thập giá dường như nặng nề đối với con, con hãy đưa mắt nhìn vào thánh giá đeo trên cổ và nói: Ôi Giê-su, Chúa là tất cả sức mạnh của con, với Ngài, mọi gánh nặng sẽ trở thành nhẹ nhàng, những lao nhọc nên êm ái, những gai nhọn biến đổi nên dịu ngọt” (Thư số 64,5).
2. Ý nghĩa Ki-tô giáo về cái chết và Thiên đàng
Chiều kích mỏng dòn của cuộc sống và của đau khổ là cái đến sau cái chết Ki-tô giáo; cái chết này sẽ đến như một “kẻ trộm vào lúc chúng ta ít nghĩ đến nó nhất” (Thư số 5,1), một hình ảnh Tin Mừng gợi lại một cách sinh động dụ ngôn các trinh nữ khôn ngoan (x.Mt 25,1-12). Đây là lý do tại sao người ta phải chuẩn bị kỹ lưỡng cho cái chết: “Ðiều cần thiết là chúng ta phải luôn chuẩn bị và điều chỉnh sổ sách đời sống cho đúng, như thế, giờ chết không làm chúng ta phải sợ hãi” (Thư số 33,3). Như các nhân chứng khẳng định, cuộc sống của Mẹ “là sự chuẩn bị liên tục cho cái chết”.439Câu nói “Tất cả đã hoàn tất” (x.Ga 19,30) của Chúa Giê-su trên thập giá là lời được chia sẻ bởi người đã chết. Được hiểu như một sự hoàn thành, cái chết không thể là một hành động không liên quan đến cuộc sống hay là một hành động đột ngột. Maria Domenica khuyến khích chúng ta: “Hãy luôn làm việc như thể chúng là công việc cuối cùng của cuộc đời các con và bằng cách này các con sẽ luôn hạnh phúc” (Thư số 41,2).
Đối với Maria Domenica, cái chết là sự phơi bày trọn vẹn thực tại mà Mẹ đã tin tưởng sâu sắc và đã chuẩn bị cả đời cho điều đó: thiên đàng, sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha, Thiên Chúa tình yêu. Trước khi chết, một vài FMA có duyên thấy chị trong một cuộc phỏng vấn với Chúa Giê-su chịu đóng đinh: “Ôi, giá như họ biết Người như bây giờ con biết Người!”.440 Một lời cầu nguyện đơn giản và đẹp, là sự bộc lộ hoàn toàn bản thân trước Chúa, là sự viên mãn của hiện hữu và dường như gợi lại lời cầu nguyện của ông Gióp sau mọi thử thách và đau khổ: “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” (G 42,5) Nếu cái chết là cao điểm, là sự hoàn tất đời sống cá nhân của chúng ta, thì cái chết trong Đức Ki-tô là sự hoàn tất của toàn bộ lịch sử cứu độ.
Hội dòng FMA có một di sản quý giá thuộc về một gia đình tu sĩ giúp cho việc chuẩn bị mình cách rõ ràng cho cái chết: “Việc chuẩn bị chết lành mang đến cho chúng ta khả năng rèn luyện bản thân để vượt qua cái tức thời; và nhận thức được tính tương đối của tất cả những gì là con người, để tính sổ về cuộc đời, về sự cô đơn, thinh lặng, để hoàn tất và canh tân những quyết định cách đích thực và triệt để”.441
Ngoài cái chết thể lý, nơi Maria Domenica còn có ý nghĩa của cái chết tinh thần: cái chết của con người cũ để mặc lấy con người mới (x.Ep 4,17-24; Cl 3,9). Khi Thánh nữ sử dụng những cách diễn đạt đầy màu sắc như “chúng ta cần phải nghiền nát tính tự ái, hãy chiên nó lên” (Thư số 23,1), Mẹ đã nhìn thấy sự vận hành của cái chết như là một chức năng của sự sống trong lô-gíc Vượt qua.
Khi sống năng động lực của cái chóng qua bằng chủ nghĩ thực tế, Maria Domenica nhấn mạnh trong các lá thư của mình ý tưởng về Thiên đàng hơn là cái chết, nhờ biết sống tỉnh thức và vui vẻ chờ đợi. Trong các lá thư, Mẹ đề cập đến “bữa tiệc sẽ được tổ chức trên thiên đàng” khi họ gặp nhau (x.Thư số 22,1; 18,1). Mẹ viết cho nữ tu Laura Rodriguez: “Can đảm lên! Sau vài ngày chiến đấu, chúng ta sẽ có Thiên đàng mãi mãi” (Thư số 18,3). Các nhân chứng trong quá trình phong thánh chứng thực rằng “Mẹ rất yêu Thiên đàng”,442thực sự, “Mẹ khao khát thiên đàng”;443 Mẹ nói về nó “như thể Mẹ đã sở hữu nó”.444 Mong muốn này của Maria Domenica dường như gợi lại cảm thức về một Thiên Chúa, Đấng đã thôi thúc nơi tâm hồn các Ki-tô hữu sự chờ đợi ngày quang lâm, nghĩa là sự trở lại của Đức Ki-tô trong vinh quang để Nước Thiên Chúa được thiết lập cách viên mãn.
Cũng trong chân trời này, người ta có thể cảm nhận được cách Maria Domenica tập trung suy tư của mình vào Thiên đàng và cuộc khổ nạn của Chúa, hơn là vào chiều kích hỏa ngục. Về điểm này, lời chứng của Cha Giacomo Costamagna thật có ý nghĩ: “Khi nghe nói về hỏa ngục, Mẹ thường thẳng thắn nói với tôi: Đây không phải là điều thúc đẩy chúng ta tiến hành cuộc chiến chống lại tội lỗi hay yêu mến Chúa Giê-su nhiều, nhưng đó là việc khao khát về cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Hãy nói cho chúng con biết về điều này và cha sẽ thấy rằng nhờ đó, chúng con sẽ thu được nhiều kết quả hơn”.445 Lời chứng này thật đáng ngạc nhiên nếu chúng ta nghĩ đến thời đại mà Maria Domenica đã sống, một thời đại nhấn mạnh về địa ngục. Thực vậy, khái niệm về địa ngục là một trong những yếu tố mạnh mẽ của người công giáo để thôi thúc sự hoán cải, được xây dựng lên từ những người hiểu biết về tâm lý người dân, những người giảng tĩnh tâm và có chức thánh. Maria Domenica đã nhìn thấy thực tế tương tự, nhưng dưới góc nhìn khác. Mẹ đã đồng hóa khuôn mặt của một Thiên Chúa yêu thương, Đấng đã ban Con của Người để cứu rỗi chúng ta và việc ghi nhớ tình yêu này là cách thuyết phục nhất để kêu gọi mọi người hoán cải. Nhận thức này của Maria Domenica được xác nhận trong các lá thư của Mẹ: trong đó Mẹ không bao giờ nói về địa ngục, nhưng luôn nói về Thiên đàng và tình yêu của Chúa.446
Thời gian, đau khổ, cái chết, Thiên đàng tìm thấy nền tảng Ki-tô giáo của chúng trong niềm hy vọng. Niềm hy vọng vững chắc nơi Maria Domenica dựa trên sự chắc chắn rằng Thiên Chúa vô cùng tốt lành, là Cha quan phòng và luôn trung thành với lời đã hứa. Niềm hy vọng thúc đẩy ý chí ước muốn những điều tốt đẹp được đức tin tiết lộ. Niềm hy vọng là nhân đức đối thần của việc luôn tìm kiếm, chờ đợi điều mà đức tin cho chúng ta biết và xác tín rằng “ai trông cậy vào Chúa thì không bị hư mất” (Tv 25, 3). Thật vậy, về bản chất, người Ki-tô hữu là con người của hy vọng, khao khát lên Thiên đàng, có khả năng “trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta” (1Pr 3,15). Như thánh Phao-lô khẳng định: nền tảng của niềm hy vọng là Đức Ki-tô, “hy vọng của chúng ta” (1Tm 1,1; Cl 1,27). Niềm hy vọng đã thúc đẩy Maria Domenica tiến bước với một tinh thần mạnh mẽ và vui tươi. Nỗi đau, khó khăn và bấp bênh càng lớn thì niềm hy vọng càng tỏa sáng trong Mẹ. Trong những nghịch cảnh của cuộc đời, Mẹ tiếp tục hy vọng, đồng thời nghĩ rằng “những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Niềm hy vọng đối với Maria Domenica không phải là một phụ lục hay một phần bổ sung cho cuộc sống trần thế; ngược lại, đối với Mẹ, cuộc sống này đã được nhào nặn hướng đến sự vĩnh cửu, tới thiên đường.
Chú thích
437 Bosco Giovanni, Il giovane provveduto per la pratica de’ suoi doveri, degli esercizi di cristiana pietà per la recita dell’ufficio della beata Vergine e dei principali vespri dell’anno coll’aggiunta di una scelta di laudi sacre ecc., trong Fonti Salesiane I 615.
438 Maccono I 398.
439 Testimonianza di Enrichetta Sorbone, trong Summarium 437.
440 Lemoyne, Relazione sulla malattia e morte di madre Maria D. Mazzarello, trong Orme di vita, D 122, 335.
441 Ko Maria, Fondamenti biblico-teologico dei temi principali della spiritualità di S. Maria Domenica Mazzarello, trong Deleidi Anita - Ko Maria, Sulle orme di Madre Mazzarello donna sapiente, Roma, Istituto FMA 1988, 150.
442 Testimonianza di Clara Preda, trong Summarium 195.
443 Testimonianza di Domenico Pestarino, trong Summarium 195.
444 Testimonianza di Giacomo Costamagna, trong Summarium 198.
445 Maccono II 117.
446 Đc Anschau Petri, La santità di Maria Domenica Mazzarello 254.