FMA Logo

12. Năng động lực đầy sức sống của Đức ái



Piera Cavaglià - Eliane Anschau Petri

Đức ái là biệt danh và là sự tổng hợp đời sống của người Ki-tô hữu. Và là “món quà lớn nhất” (1Cr 13,8), sẽ không bao giờ qua đi. Sứ điệp Kinh Thánh và Huấn quyền của Giáo hội, đặc biệt là thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu - Deus caritas est nhấn mạnh rằng tình yêu là bản chất của chính Thiên Chúa, là ý nghĩa của tạo thành và của lịch sử, là ánh sáng mang lại sự tốt đẹp cho sự hiện hữu của mỗi người. Đồng thời, có thể nói, tình yêu là “phong cách sống” của Thiên Chúa và của người có đức tin. Đức ái là hành động đáp lại tình yêu Thiên Chúa của những người dám đặt cuộc sống của mình như một món quà của chính mình cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Nơi Đức Giê-su Ki-tô, hai khía cạnh này hợp thành một thể thống nhất hoàn hảo: Người là Tình Yêu nhập thể, Đấng mặc khải khuôn mặt của Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch vô tận của lòng bác ái và lòng thương xót.

Các thánh là những người đã sống và làm chứng một cách gương mẫu về lòng bác ái. Điều này được thấy một cách tuyệt vời trong cuộc sống của Cha Bosco, của Mẹ Mazzarello và của tất cả FMA. Đức ái đã được viết ngay trong các khoản Hiến luật đầu tiên của FMA, tinh thần của Hội dòng được mô tả là “tinh thần bác ái và sự dễ dạy”.465 Ngay cả trong bản phác hoạ về Hệ thống dự phòng, Cha Bosco khẳng định rằng việc thực hành đức bác ái “đều dựa trên những lời của Thánh Phao-lô đã nói: Đức mến thì hiền hậu, kiên nhẫn, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Vì vậy, chỉ người Ki-tô hữu mới có thể áp dụng thành công hệ thống dự phòng”.466

1.      “Một con tim hoàn toàn thuộc về Chúa”: Đức ái, một nhân đức đặc trưng của Maria D. Mazzarello

Theo lời của các nhân chứng tại lễ phong chân phước cho Maria D. Mazzarello, chúng ta đọc được rằng Mẹ là “bông hoa bác ái”467 và “Mẹ có lòng trắc ẩn sâu sắc đối với người thân cận”.468 Mẹ đã đáp lại Tình Yêu bằng việc yêu. Sự đáp trả vô điều kiện cho Tình Yêu này nảy sinh từ niềm tin sống động, đơn sơ và mạnh mẽ vào Thiên Chúa, từ việc biết mình được Người yêu thương, nhìn đến và đồng hành.

Như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhắc nhở, “người tín hữu được biến đổi bởi Đấng yêu thương, vì người ấy đã mở lòng đón nhận trong đức tin, và vì người ấy mở lòng đón nhận Đấng yêu thương đã hiến dâng cho mình, nên sự hiện hữu của người ấy sẽ đi ra ngoài bản thân mình. Thánh Phao-lô có thể khẳng định: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl2,20)”.469

Khi có trái tim và tâm trí tràn đầy Thiên Chúa thì không thể không có Người trên môi miệng: Maria Domenica thường nói về tình yêu của Thiên Chúa và khiến cho các nữ tu và các thiếu nữ lớn lên trong tình yêu dành cho Người. Mẹ đề nghị chỉ làm việc và sống cho Chúa, không làm bất cứ điều gì vì hư danh hay vì tự ái. Mẹ không chỉ hô hào thực thi bác ái; mà chính bản thân Mẹ đã dần dần trở thành “một con tim hoàn toàn thuộc về Chúa”, một “con tim khiêm nhường và từ mẫu”.470 Lòng bác ái của Mẹ đã khiến Mẹ trở nên “mọi sự cho mọi người”471 thể hiện qua lòng từ mẫu, như lời thánh Phao-lô diễn tả khi ngài cảm thấy gắn bó với tín hữu Cô-rin-tô bằng một tình cảm sâu xa: “tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người” (1Cr 9,19).

Đức ái của Maria D. Mazzarello là một đức ái được thể hiện qua lòng nhân từ và qua những đặc tính của tình mẫu tử thiêng liêng. Tất cả lòng bác ái Mẹ đều dành cho các chị em, cho các thanh thiếu nữ, cũng như cho gia đình của các chị em và các thanh thiếu nữ. Mẹ tiếp đón mọi người một cách thân mật, Mẹ cảm thông và chia sẻ những nỗi khổ đau của mọi người. Các nhân chứng khẳng định “Mẹ coi người thân của các chị em như người thân trong gia đình và muốn mỗi người viết thư cho người thân khá thường xuyên, luôn với ý hướng thiện”.472

Mẹ nhập thể nơi mình lòng bác ái thể hiện qua lòng thương xót, qua việc đón nhận những đau khổ và yếu đuối của người khác. Bằng hành động của mình, Mẹ đã biểu lộ một tình yêu hữu hình, hỗ trợ, dự đoán, một tình yêu sẵn sàng cúi mình trước sự đau khổ và mong manh của người khác. Như trong trường hợp Mẹ giúp đỡ cho một bé gái đang bị nứt nẻ vì lạnh;473 cử chỉ cúi xuống băng bó vết thương cho bé gái là một cử chỉ gợi lại phong cách của một người mẹ, cũng chính là thái độ của Chúa Giê-su, Đấng đã tự huỷ mình ra không, hạ mình xuống và trở thành tôi tớ để biểu tỏ tình yêu cứu độ của Người (x.Pl2,7). 2.

Sự hiệp nhất của tình yêu: yêu Chúa và yêu tha nhân

Cả cuộc đời của Maria Domenica là một trường học tuyệt vời về đức ái Ki-tô giáo. Lòng tràn ngập tình yêu dành cho Thiên Chúa, làm bừng cháy nơi Mẹ lòng bác ái đích thực đối với người thân cận, nơi họ Mẹ “nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa”.474 Mẹ yêu các thanh thiếu nữ và các nữ tu “trong Chúa”.

Tình yêu dành cho Thiên Chúa và tình yêu dành cho tha nhân hình thành nơi Mẹ một sự hài hòa xuất phát từ cùng một nguồn. Như đã được nêu trong thông điệp Thiên Chúa là tình yêu, cả hai điều răn đặt nền và sống dựa trên tình yêu tiên liệu của Thiên Chúa, Đấng đã yêu chúng ta trước:475 Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (Ga 4,1).

Mẹ Mazzarello đặt mình trong sự hòa hợp với lời của Thánh Gio-an khi ngài viết rằng “ai không yêu anh em mình, người mình nhìn thấy thì không thể yêu Thiên Chúa là Đấng mình không thấy” (1Ga 4,20). Tình yêu dành cho Thiên Chúa thể hiện qua tình yêu dành cho người thân cận và đó chính là bằng chứng về tình yêu dành cho Thiên Chúa. Thực vậy, dấu hiệu chắc chắn nhất để biết liệu tình yêu dành cho Thiên Chúa có lan tỏa trong cuộc sống hay không là xác minh xem người đó có thực hiện nỗ lực nào về tình yêu dành cho người thân cận không. Đây chính là định hướng nền tảng cho cuộc đời của Mẹ Mazzarello: sống vì tình yêu và trong tình yêu của Thiên Chúa để trở thành dấu chỉ của lòng nhân từ của Người đối với người khác. Bằng cách này, Mẹ, với tư cách là người hướng dẫn và nhà giáo dục, đã cộng tác với Chúa trong việc đào luyện một cộng đoàn được sinh động bởi đức ái, theo trái tim của Đức Ki-tô.

Các nhân chứng tại tiến trình phong chân phước chứng thực rằng Mazzarello “sống cách cao độ, những gì ta làm cho người thân cận là làm cho Chúa và Mẹ giúp mọi người nhìn thấy Chúa Giê-su nơi các em nội trú, nơi các nữ tu, nơi mọi người, để yêu thương mọi người không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng gương sáng và bằng các việc làm”.476 “Mỗi lần Mẹ có thể giúp đỡ người thân cận của mình theo một cách nào đó, ta nhận thấy niềm vui rạng ngời nơi Mẹ, bởi vì Mẹ nhìn thấy Chúa nơi người thân cận của mình và nhìn thấy Chúa trong tất cả mọi sự”.477 Những lời nói và thái độ này âm vang lời Tin Mừng Mát-thêu: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”(Mt 25,40).

3. Đức ái và sự hiệp thông huynh đệ

Tình yêu mãnh liệt dành cho Thiên Chúa nơi Maria Domenica đã được thể hiện một cách cụ thể và trong sáng qua tình yêu huynh đệ, đồng thời kiến tạo nên những mối dây thân tình giữa các nữ tu và các thanh thiếu nữ. Cộng đoàn Mornese luôn tràn ngập bầu khí phản ánh Chúa Ba Ngôi, một cộng đoàn nơi các chị em cùng nhau hướng tới sự thánh thiện cách không quá lý tưởng hay hời hợt. Chị em yêu nhau và đón nhận nhau bằng nguồn lực và sự yếu đuối của mỗi người. Mặc dù làm việc vất vả, chị em đã luôn sống giới răn yêu thương: “Đây là điều răn của Thầy: hãy yêu nhau như Thầy đã yêu anh em” (Ga 15,12).

Mẹ Mazzarello, một người nữ cụ thể và thực tế, đã giúp các chị em trưởng thành trong tình yêu thương hỗ tương. Mẹ biết cách đi thẳng vào trái tim, sửa lỗi cho chị em, nói sự thật với lòng bác ái. Mẹ viết cho một cộng đoàn đang phải vật lộn để sống sự tiếp nhận huynh đệ: “Nơi nào lòng bác ái ngự trị, nơi đó có Thiên đàng. Chúa Giê-su rất vui khi được ở giữa những người con khiêm nhường, vâng phục và bác ái. Hãy chắc chắn rằng Chúa Giê-su có thể hạnh phúc giữa các con” (Thư số 49,3).

Các hang động của đức ái là điều kiện để sự hiện diện của Chúa Giê-su được thực sự cảm nhận giữa chúng ta, nhưng cũng chính là cách hiệp thông với Chúa Giê-su là nguồn mạch của đức ái và là sự trợ giúp để có thể sống đức ái cách liên lỉ ngay cả khi không dễ dàng. Thật vậy, giữa đức ái và sự hiện diện của Chúa Giê-su có một mối tương quan mật thiết. Khi cộng đoàn đặt Chúa Giê-su làm trung tâm và cộng đoàn sống bác ái thì lúc đó cộng đoàn tìm được hạnh phúc đích thực trong đời sống huynh đệ.

Trong buổi Buona notte (Lời chúc ngủ ngon), Mẹ Mazzarello nhấn mạnh: “Khi trái tim tìm thấy lòng bác ái đích thực ngự trị trong nhà, giữa các chị em và Bề trên, thì nó không tìm kiếm điều gì khác; nhưng nếu không có lòng bác ái này, thì đây, trái tim trở thành con ngựa điên. Vì thế đức ái là bông hoa để dâng lên Chúa Giê-su trong mỗi lần Rước lễ, và chúng ta hãy xin Người ơn này mỗi khi chúng ta đến thăm Người”.478 Những lời này, dường như gợi lại những gì Phao-lô đã viết cho tín hữu rô-ma: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành. Thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình;nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa” (Rm 12,9).

Khi có đức ái đích thực, thì người ta tìm kiếm điều tốt đích thực cho mọi người và giúp họ lớn lên trong tình yêu để tiến đến sự thánh thiện. Theo quan điểm của Tin Mừng và theo logic của tình thương mến sa-lê-diêng, việc sửa lỗi huynh đệ là một hành vi bác ái cao cả (x.Mt 18,15; Gl 6,1). Mẹ Mazzarello thường viết với chủ đích đào luyện bằng những lời này: “Hãy làm cho chị em luôn vui vẻ, hãy luôn sửa lỗi chị em với đức ái, nhưng đừng bao giờ bỏ qua một khuyết điểm nào. Một khuyết điểm được sửa chữa ngay lập tức, nhiều khi không là gì, nhưng nếu để nó mọc rễ thì sau đó cần phải khó nhọc lắm mới nhổ nó đi được” (Thư số 17,1). “Con hãy luôn sửa dạy, cảnh cáo, nhưng trong lòng thông cảm và dùng tình bác ái với hết mọi người […] cần sửa chữa với đức ái, nhưng đừng tự phụ, và cũng đừng tham vọng là sẽ khử trừ được tất cả trong một lần, không có điều này đâu, mà với kinh nguyện, sự kiên nhẫn, sự cảnh giác và bền tâm, từ từ mỗi lúc một ít sẽ dẫn đến thành công trong mọi sự” (Thư số 25,2-3). Nếu những hành vi này được quan tâm, cộng đoàn sẽ trở thành một phòng thí nghiệm đích thực, nơi mọi người cùng nhau lớn lên trong tình hiệp thông, trong tình người, trong sự thánh thiện, trong sự sống viên mãn.

4. Hồng ân của sự tự do trong tình yêu

Theo kinh nghiệm của Mẹ Mazzarello và của cộng đoàn tiên khởi, có một mối liên hệ mật thiết giữa đức ái và tự do. Mẹ tóm tắt mối ràng buộc này qua cách diễn đạt thô sơ sau: “Hãy tự do làm tất cả những gì đức ái đòi hỏi” (Thư số 35,3). Lối diễn tả này, tuy đơn giản nhưng tóm tắt thông điệp ktô giáo liên quan đến sự tự do của con cái Thiên Chúa bước đi trong tình yêu.

Vì vậy, Mẹ tỏ cho thấy một tầm nhìn rộng trong việc hướng dẫn các chị em sống và hành động trong “sự tự do” đích thực, đồng thời có khả năng đưa mọi tiêu chí hành động trở lại giá trị cơ bản của đời sống Ki-tô hữu: đức ái. Lối diễn tả về mối liên hệ giữa tự do và đức ái của Maria Domenica gợi lại lá thư của Phao-lô gửi cho tín hữu Ga-lat: “Thật vậy, hỡi anh em, anh em đã được kêu gọi để hưởng tự do. Tuy nhiên, đừng để sự tự do này trở thành cái cớ cho xác thịt; thay vào đó, bằng tình yêu, hãy phục vụ lẫn nhau. Trên thực tế, toàn bộ lề luật tìm thấy sự viên mãn của nó trong một giới luật duy nhất: yêu người lân cận như chính mình” (Gl5,13-14). Thật vậy, đức ái là dấu hiệu tỏ lộ sự sống mới, là hoa trái của Thần Khí: sống sự tự do của con cái Chúa. Nơi đâu những người con tự do này sống, nơi đó là “ngôi nhà tình yêu Chúa” và cuộc sống là một sự hiển linh về sự hiện diện của Chúa. Chúng ta đang đối mặt với một nguyên tắc chạm đến chiều kích con người và chiều kích thần học của con người. “Làm một cách tự do” là hành trình của việc giải thoát khỏi tội lỗi và khỏi những điều kiện bên ngoài cũng như bên trong, luôn ngăn cản hành vi bác ái được lan rộng. Để bản thân mình bị lay động bởi những đòi hỏi của “đức ái” là đưa toàn bộ cuộc sống vào quỹ đạo của sự hiện hữu Ki-tô giáo, và do đó, mang lại cho sự hiện hữu ấy hơi thở tự do sâu sắc: “nơi nào có Thần khí Chúa, nơi đó có tự do” (2Cr 3,17). Lemoyne, ở phần cuối của bản thông tin dài về bệnh tật và cái chết của nữ tu Maria Domenica, đã trích dẫn một câu nói rất được Mẹ yêu quý về sự tự do nội tâm. Ngài viết như sau: “Trong số những lời cảnh báo mà Thánh nữ đã nhiều lần đưa ra là: Đừng nghe theo tinh thần nô lệ. Nhưng hãy chiều theo sự tự do thánh thiện mà thánh Phan-xi-cô Sa-lê mong muốn”.479 Câu này muốn nói đến một sự tự do đối lập với sự tùy tiện, gò bó, cứng nhắc, đắn đo, sợ hãi. Tự do không loại trừ sự vâng lời, trung thành, tôn trọng các chuẩn mực. Nó là một sự tự do thúc đẩy chúng ta hành động vì tình yêu và trong tình yêu. Do đó, nó thúc đẩy chúng ta đi vào logic tìm kiếm điều tốt cho người khác, quên đi chính mình. Nó là quyền tự do của con cái Thiên Chúa, vì lòng hiếu thảo của mình, mọi người thực sự cảm thấy họ như là anh em giữa anh em, chị em giữa chị em.

Về cơ bản, theo thánh Phan-xi-cô Sa-lê,480 sự tự do này là cõi lòng không dính bén, để linh hồn dễ dạy với Thánh Thần và sẵn sàng làm theo ý muốn của Thiên Chúa, để chỉ tìm kiếm một mình Người. Nếu một người không cảnh giác, con tim sẽ tan biến, và sự tầm thường cùng lối sống buông thả sẽ dễ dàng chen chân vào. Con tim trở thành “vườn cây ăn trái tủa ra tứ phía, hoa trái không dành cho chủ nhân mà dành cho khách qua đường”.481 Do đó, thánh Phan-xi-cô Sa-lê mô tả sự tự do của những người con yêu quý của ngài, là một sự tự do thấm đẫm tình yêu: “Một tinh thần tự do làm mọi việc vì bác ái”.482

5. Vị thầy thông thái của đức ái

Maria Domenica là người đầu tiên có mặt nơi đâu cần đến lòng bác ái, và Mẹ là người đầu tiên “làm tất cả vì đức ái” cho người khác. Nhưng Mẹ cũng là thầy dạy sống đức ái bằng chính cuộc sống của mình. Xin trích ra đây những chứng từ của Tiến trình phong thánh: “Mẹ muốn các nữ tu đối xử với những thanh thiếu nữ nghèo được tìm thấy trên đường với tất cả lòng bác ái; hãy đến với chúng, và nếu các nữ tu không thể làm gì khác, thì ít nhất họ sẽ để lại một kỷ niệm đẹp”.483 Đây là một chứng từ gợi lên giáo huấn của Chúa Giê-su, Đấng dạy chúng ta nhận ra khuôn mặt của Người nơi mọi anh chị em, nơi những người trẻ gặp khó khăn và trở thành người Sa-ma-ri nhân hậu vì Người (x.Lc10,25-37). Nữ tu Eulalia Bosco làm chứng về sự khôn ngoan mà Mẹ Mazzarello đã giúp các nữ tu kiểm điểm chính mình vì đã có những thái độ thiếu bác ái đối với người khác: “Một buổi tối khi Mẹ đang đi dạo với các nữ tu, họ gặp một người nghèo và bẩn thỉu. Mẹ quan sát các nữ tu xem họ sẽ làm gì khi nhìn thấy người nghèo và Mẹ thấy rằng tất cả đều tiếp tục đi con đường của mình. Người đầy tớ Chúa rất buồn, nhưng sau đó Mẹ vẫn giữ im lặng. Nhưng vào buổi tối, vào lúc Buona notte cho các nữ tu, Mẹ đã trách họ vì họ đã thiếu lòng bác ái”.484 Người sống yêu thì không thể dửng dưng trước những đau khổ hay nhu cầu của người khác; cũng như không thể không thể hiện tình cảm đối với những người được giao phó cho mình.

Giới răn yêu thương mà Chúa Giê-su để lại cho các môn đệ (x.Ga 15,12) chắc chắn cũng là mệnh lệnh cho Mẹ Mazzarello. Khi một FMA hỏi xin Mẹ một lời khuyên trước khi lên đường đi truyền giáo, Mẹ chỉ trả lời đơn giản: “Con hãy yêu mến mọi người và tất cả các chị em của con, hãy luôn yêu thương họ trong Chúa, nhưng đừng chia sẻ con tim của con cho bất kỳ một ai, nó phải thuộc trọn về Chúa Giê-su” (Thư số 65,3). Nhà truyền giáo đích thực chính là một người nữ hoàn toàn sống bác ái đối với người thân cận của mình, là người thể hiện tình yêu với một sự tự hiến quảng đại và phổ quát, và là người yêu Thiên Chúa là Đấng yêu thương, bằng một trái tim không chia sẻ.

Bác ái là một hành vi, khiến ta không sống dửng dưng với mọi người, đó là lý do tại sao ta nói rằng sống bác ái là hình thức truyền giáo đầu tiên và đích thực nhất. Trong mọi thời và mọi nơi, con người luôn bị tác động trước tiên bởi chứng tá cụ thể của đức ái. Trong một trải nghiệm đầy khó khăn và đau đớn ở Nizza Monferrato khi các FMA phải trải qua một cuộc điều tra tư pháp vì câu chuyện của Annetta Bedarida485 - một thiếu nữ Do Thái muốn trở thành Ki-tô hữu - và các nữ tu cũng là mục tiêu của báo chí chống giáo quyền, thì một hành động bác ái của Mẹ Mazzarello và cộng đoàn đã giúp thay đổi quan điểm của những người đã phỉ báng họ. Tài liệu làm chứng như sau: “Người đầy tớ Chúa, trong cơn bão này, vẫn bình tĩnh và thanh thản, và thể hiện tinh thần của mình đối với những kẻ gièm pha, một thời gian sau, khi nước tràn qua sông Belbo khiến một phần lớn dân số phải rời bỏ nhà cửa vì bị ngập nước, Người đầy tớ Chúa đã mở rộng cánh cửa của Hội dòng đón họ vào bằng cả trái tim. Hành động bác ái này đủ để thay đổi tinh thần của người dân Nizza”.486

6. Mornese: “Ngôi nhà của tình yêu Thiên Chúa”

Cộng đoàn Mornese được gọi là “Ngôi nhà của tình yêu Thiên Chúa”. Nơi đó có Đấng là Tình Yêu cư ngụ (x.1Ga 4,16). Từ các nguồn tài liệu và nguồn tường thuật, người ta thấy rằng trung tâm của cộng đoàn và bí quyết của niềm vui của mọi người chính là tình yêu dành cho Chúa Giê-su, là ngọn lửa của Chúa Ba Ngôi, được Chúa Thánh Thần lan tỏa và đổ vào tâm hồn họ (Rm 5,5), là lửa mà Chúa Giê-su đã đến để mang đến trần gian (x.Lc 12,49) và đã khơi dậy lòng nhiệt thành bác ái. Vì lý do này, ngôi nhà có thể được xác định là “ngôi nhà của tình yêu Thiên Chúa”. Tông huấn đời sống thánh hiến dạy rằng “cộng đoàn, trước khi là khí cụ cho một sứ mệnh nào đó, thì nó là không gian đối thần, nơi đó người ta có thể cảm nghiệm được sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa phục sinh (Mt 18,20)”.487 Maria Domenica ý thức rằng chính Thiên Chúa đã đốt lên ngọn lửa tình yêu của Người nơi mỗi chị em (x.Thư số 41,2) và rằng cần phải cảnh giác không để ngọn lửa ấy tắt lịm, mà phải giữ cho nó cháy liên tục (x.Thư số 23,5-6).

Không khí tại Mornese là không khí của Chúa, đó là bầu khí của niềm vui. “Các FMA đầu tiên nhớ lại, ngay cả những bức tường dường như cũng cảm thấy hạnh phúc”.488 Thực vậy, chính Cha Bosco đã hít thở bầu khí này và làm chứng về nó khi ngài đã viết cho Cha Michele Rua từ Mornese: “Ở đây người ta tận hưởng rất nhiều khí trời mát mẻ, dẫu rằng có rất nhiều ngọn lửa tình yêu Chúa”.489

Bầu khí bác ái huynh đệ này đã được cảm nhận cách rõ ràng bởi những ai đến cộng đoàn hoặc sống trong cộng đoàn. Enrichetta Telesio khẳng định: “Khi bước vào Hội dòng, tôi thấy có rất nhiều sự nhiệt thành và tinh thần hy sinh cao cả, được thắp sáng bởi tình yêu Thiên Chúa và tình bác ái huynh đệ”.490 Maria Rossi cũng công nhận tương tự: “Khi vào Hội dòng, tôi có cảm giác như bước vào một gia đình, nơi mà trong công việc và cầu nguyện, mọi người luôn hướng thẳng về thiên đàng”.491 Eulalia Bosco tiếp tục chứng thực: “Ngôi nhà của Mornese đều thấm nhuần và thấm đẫm lòng đạo, lòng nhiệt thành, tinh thần từ bỏ bản thân và bác ái”.492 Chúng ta có thể nói về cộng đoàn Mornese như những gì đã được nói về các Ki-tô hữu tiên khởi: “Hãy xem họ yêu nhau như thế nào!”493

Người Ki-tô hữu được công nhận và đánh giá cao vì tình yêu thương họ dành cho nhau. Khi nhìn vào các Ki-tô hữu, những người ngoại giáo đã bị thu hút bởi họ và hiểu được vẻ đẹp của việc sống như những người anh em thực sự: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau” (Tv 133,1). Hơn nữa, chính Chúa Giê-su đã tuyên bố: “Cứ dấu này mà mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

7. Mornese: tình yêu sản sinh sự sống

Cuộc sống của một nhóm, của một người, của một tổ chức và các giá trị được nó sinh động, luôn ảnh hưởng một cách tích cực và luôn lan tỏa ra môi trường xung quanh ngay cả khi không ai hay biết. Vì điều này, chúng ta nói rằng nơi một cộng đoàn thì luôn có “tình phụ tử” hoặc “mẫu tử”, nghĩa là cộng đoàn được ban cho khả năng sản sinh sự sống. Bằng chứng về sự thật này là lời tuyên bố của thánh Phao-lô chống lại tín hữu Cô-rin-tô: “cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Ki-tô, anh em cũng không có nhiều người cha đâu, bởi vì trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em”(1Cr 4,15).

Cộng đoàn Mornese, vì chất lượng cuộc sống và vì các mối quan hệ của nó, thực sự là một ngôi nhà mẹ, một môi trường giàu khả năng sản sinh sự sống do sự giàu có về tính nhân bản và Ki-tô giáo. Vì lý do này, cộng đoàn trở thành “cung lòng màu mỡ” cho sức sống tương lai của Hội dòng.

Đối với các FMA tiên khởi, ở lại với Chúa không có nghĩa là rút lui khỏi các chị em và các thiếu nữ, nhưng có nghĩa là ở bên họ, để họ cảm nghiệm được lòng tốt, sự dịu dàng và kiên nhẫn của Chúa Cha. Bất cứ ai đến gần họ đều bị mê hoặc cách không thể giải thích được. Bất cứ ai chăm sóc người khác với tất cả sự nhưng không đều trở nên một lời tiên tri, một lời mời gọi sống đời dâng hiến minh nhiên.

Ai đó hỏi Maria Grosso, một sinh viên trong xưởng may đầu tiên rằng cô sẽ làm gì khi lớn lên, cô trả lời: “Biến bản thân tôi hoàn toàn thuộc về Chúa, với Maria Mazzarello”.494 Một cô gái khác, người đã vào Mornese với tư cách là một học sinh nội trú và sau đó trở thành FMA, đã viết cho Cha Ferdinando Maccono, người viết tiểu sử về Maria D. Mazzarello: “Con có thể thực sự nói rằng con ở lại Mornese vì lòng bác ái tuyệt vời của Mẹ Mazzarello nhân hậu, người đã biết cách thu phục con bằng tình mẫu tử và biết cách sửa đổi tính cách nóng nảy, kiêu ngạo, hay thay đổi của con bằng sự ngọt ngào và bác ái”.495 Còn Rosalia Pestarino thì bị thu hút bởi sự thân thiện và lòng nhiệt thành của nhóm. Emilia Mosca bị chinh phục bởi bầu không khí gia đình và bầu khí tâm linh sâu sắc của môi trường. Angiolina Sorbone bị thu hút bởi khí hậu tốt lành, thân thuộc ở Mornese dù ban đầu không có ý định trở thành một nữ tu.

Một tình yêu mãnh liệt và đích thực như vậy chỉ có thể sản sinh ra những người nữ có khả năng yêu thương. Đổi lại, các tu sĩ trẻ có thể giải phóng các nguồn tài nguyên phong phú của họ trong cộng đoàn. Như thế, họ đóng góp phần mình, theo cách cá nhân và không lặp lại, nhằm duy trì dung mạo đặc nét của một “ngôi nhà của tình yêu Thiên Chúa” cho cộng đoàn và cho Hội dòng mới thành lập.

Nữ tu Maria Lanzio, người biết rõ về chị Angiolina Sorbone, đã viết: “Chị đã luôn muốn dâng hiến. Trái tim của chị đã được tạo ra chính xác theo khuôn mẫu của Mornese: không có gì cho bản thân, tất cả vì niềm vui và cái gánh nhẹ nhàng của người khác”.496 Nữ tu Ottavia Bussolino “đã khấn tuân giữ lòng bác ái với các chị em bằng cách nghiên cứu cách đối xử với chị em mà không làm họ đau khổ và luôn có lợi cho họ”.497

Trong Nghị quyết của Tổng Tu Nghị XXIV chúng ta đọc rằng “dẫu rằng chúng ta có những yếu đuối và giới hạn, nhưng đời sống của chúng ta sẽ sản sinh sự sống khi chúng ta biểu lộ vẻ đẹp của ơn gọi chúng ta; khi chúng ta biểu lộ hồng ân đoàn sủng hiện diện trong chúng ta và trong các cộng đoàn giáo dục cách năng động, sáng tạo và có sức lan tỏa”.498 Được hướng dẫn và soi sáng bởi kinh nghiệm của Maria Domenica Mazzarello, chúng ta được kêu gọi làm chứng, hôm nay như hôm qua, về lời tiên tri của sự hiện diện đầy chú tâm, tế nhị, động viên, quan tâm, gần gũi, yêu thương. Chúng ta cũng được mời gọi để hướng tới tương lai một cách mạnh dạn với một trái tim bao la và quảng đại (Thư số 47,12), một trái tim mẫu tử, như có thể thấy nơi Mẹ Mazzarello và nơi các FMA tiên khởi. Chúa Thánh Thần đổ đầy trên các FMA tiên khởi một sự thánh thiện không tạo dáng và không phô trương, nhưng lại rất giống với sự thánh thiện của các Ki-tô hữu tiên khởi: “một trái tim và một linh hồn” (Cv 4,32). Sự hòa hợp của lòng bác ái mà Chúa Thánh Thần biểu tỏ trong chúng ta và trong các cộng đoàn giáo dục vừa là quà tặng vừa là nỗ lực dấn thân không mệt mỏi của mỗi người. “Ở lại trong tình yêu của Chúa” (x.Ga15,9) là điều kiện để có thể yêu một cách nhưng không, tự do và sản sinh sự sống.


Chú thích

465 Costituzioni (1885) Titolo IX, art. 6.

466 Il Sistema preventivo nell’educazione della gioventù, trong Fonti Salesiane I 435.

467 Testimonianza di Eulalia Bosco, trong Summarium 234.

468 Testimonianza di Ottavia Bussolino, trong Summarium 243.

469 Lumen Fidei 21.

470 Testimonianza di Enrichetta Sorbone, trong Summarium 396.

471 Testimonianza di Giacomo Costamagna, trong Summarium 267.

472 Testimonianza di Enrichetta Sorbone, trong Summarium 244.

473 Đc Hồi sử IV 14.

474 Testimonianza di Angelina Cairo, trong Summarium 246.

475 Deus caritas est 18.

476 Testimonianza di Maria Genta, trong Summarium 249.

477 Testimonianza di Enrichetta Sorbone, trong Summarium 244.

478 Hồi sử III 216.

479 Lemoyne , Relazione sulla malattia e morte di Maria D. Mazzarello, trong Orme di vita D 112, 343.

480 Vì vậy, ngài đã viết cho Nam tước de Chantal: “Sự tự do và thẳng thắn thánh thiện phải ngự trị trong mọi thứ, và chúng ta không được có luật lệ hay ràng buộc nào khác ngoài luật lệ của tình yêu. [...] Tôi nghĩ rằng, nếu bạn hiểu rõ về tôi, bạn sẽ thấy rằng tôi đang nói sự thật và rằng tôi đang chiến đấu vì một lý do chính đáng khi tôi bảo vệ sự tự do thánh thiện và đáng yêu của tinh thần, như bạn biết đấy, Tôi tôn vinh theo một cách rất đặc biệt, miễn là nó đúng sự thật và không phóng túng và phóng túng, những thứ chẳng qua chỉ là cái mặt nạ của tự do” (Thư ngày 8 tháng 7 năm 1606, trong S. Francesco di Sales, Các lá thư của tình bạn thiêng liêng, biên tập bởi André Ravier = Letture cristiane 1, Milan, Ed. Paoline 1984, 270).

481 Lettera del 14 ottobre 1604, trong nt 212 ss.

482 Nt 218.

483 Testimonianza di Eulalia Bosco, trong Summarium 240.

484 Testimonianza di Eulalia Bosco, trong Summarium 241.

485 Đc Anschau Petri, La santità di Maria Domenica Mazzarello 184-185.

486 Testimonianza di Enrichetta Telesio, trong Summarium 232.

487 Đời sống thánh hiến 42.

488 Hồi sử I 205.

489 Lettera di Don Bosco a Don Michele Rua (Mornese, 3 luglio 1873), trong Orme di vita, D 20, 73.

490 Testimonianza di Enrichetta Telesio, trong Summarium 46.

491 Testimonianza di Maria Rossi, trong Summarium 83.

492 Testimonianza di Eulalia Bosco, trong Summarium 69.

493 Tertulliano, L’Apologetico 137.

494 Maccono I 338.

495 Nt 215.

496 Calosso Carmela, Suor Sorbone Angelica, in Facciamo memoria. Cenni biografici della FMA defunte nel 1946, Roma, Istituto FMA 1997, 321.

497 Secco Michelina, Facciamo memoria. Cenni biografici della FMA defunte nel 1939, Roma, Istituto FMA 1994, 152.

498 Đc Atti CG XXIV, 69.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026