19. Tính hài hước dễ thương
Ha Fong Maria KO - Eliane Anschau Petri
“Thánh nhân là người có khả năng sống với niềm vui và yêu thích sự hài hước. Vì không đánh mất ý nghĩa đối với thực tế nên ngài có thể soi sáng cho những người khác với một tinh thần tích cực và đầy hy vọng” (GE 122); “Theo lẽ thường thường thì niềm vui Ki-tô giáo sẽ luôn được đi kèm với việc yêu thích sự hài hước một cách rất đặc biệt” (GE 126): những lời khẳng định vắn gọn này của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô không có gì đáng ngạc nhiên. Chúng là những lời nhắc nhở hợp thời. Thường thì cách sống và làm chứng cho đạo Ki-tô giáo của chúng ta luôn có tính chất nghiêm túc nhạt nhẽo, có khi biến thành nặng nề. Có lẽ chúng ta nên nhớ lại điều Chúa Giê-su nói với chúng ta: “Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,30). “Các thiên thần có thể bay vì họ coi nhẹ bản thân mình” , đây là lời suy tư sáng giá của nhà văn nổi tiếng người Anh, G. K. Chesterton.
Hài hước là dấu hiệu của một sức khỏe tinh thần tốt, của tinh thần hoạt bát, của sự hài hòa nội tâm, của niềm vui sống, của khả năng tạo quan hệ và nghệ thuật tương quan. Nó được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, từ việc phát hiện ra các tình huống nghịch lý đến việc làm giảm tính nặng nề của các tình huống cách dí dỏm và gây cười. Hài hước gợi nhớ lại một số chiều kích cơ bản của “homo ludens e l’homo festivus (con người của vui chơi và con người của lễ hội)”, chẳng hạn như trò chơi, nụ cười, phiêu lưu kì thú, trí tưởng tượng, thiên tài.
1. Tính hài hước trong Kinh Thánh
Chúng ta có thể tìm thấy tính hài hước trong Kinh Thánh không? Dù có vẻ gây tò mò, nhưng đối với chúng ta Sách Kinh Thánh cũng rất vui nhộn: nó chứa đựng nhiều lời mời gọi đến hưởng niềm vui và không thiếu những nét hài hước tinh tế. Có những trang làm cho độc giả của mọi ngôn ngữ và mọi thế hệ mỉm cười. Ta tìm thấy nét châm biếm nhẹ nhàng của nhiều bài hát của Sách Khôn ngoan bị ảnh hưởng bởi truyền thống khôn ngoan phương Đông cổ đại. Nơi truyền thống này, người ta dạy cách nhìn vào thực tế một cách khách quan và khám phá nhiều chiều kích của sự vật, bao gồm cả chiều kích hài hước. Thông qua những câu chuyện dân gian, câu đối, tục ngữ, ẩn dụ, các tác giả Kinh Thánh đã có thể mô tả một cách tinh tế và hiệu quả đến kinh ngạc những yếu tố hài hước trong kinh nghiệm của cuộc sống hàng ngày. “Thánh hiền có những lời lẽ khác nào mũi nhọn, tác giả những tập ngạn ngữ ví như những cột mốc” (Gv 12,11). Thường thì một câu nói đùa có thể chuyển tải một thông điệp sâu sắc và tạo ra hiệu ứng mạnh mẽ và lâu dài hơn một bài phát biểu dài.
Sau đây là một ví dụ: Bức chân dung hài hước của kẻ lười biếng. Tên lười nói: “Ngoài đường có sư tử, nơi quảng trường có chúa sơn lâm”. Cánh cửa xoay trên trục, đứa lười lăn trên giường. Kẻ lười biếng thò tay vào đĩa, nhưng chẳng buồn đưa thức ăn lên miệng” (Cn 26,13-15).
Ngay cả trong số những câu chuyện của bộ Ngũ thư và bộ sách lịch sử cũng có những trình thuật hài hước, chẳng hạn như trình thuật về bà Sa-ra, già và hiến muộn, cười khi nhận được thông báo rằng bà sẽ có một đứa con từ người chồng cũng cao tuổi không kém. Tiếng cười hoài nghi của bà sẽ biến thành tiếng cười vui mừng khi I-sa-ác ra đời. (St 18,13-15). Thực vậy, tên I-sa-ac có nghĩa là “Chúa mỉm cười”. Thật tuyệt vời khi con trai của lời hứa mang cái tên dễ thương này. Cảnh nhà tiên tri - pháp sư Ba-la-am với con lừa của mình (Ds 22,22-31), được thuật lại một cách sinh động, vui nhộn. Tác giả nói rõ rằng những con lừa thường thông minh và sâu sắc hơn con người, ngay cả khi chúng tự nhận mình là nhà tiên tri. Sự hài hước nhẹ nhàng và tinh tế là một phương tiện sắc bén để phê phán những kẻ cường quyền và kiêu ngạo, như trong câu chuyện về trận chiến giữa chiến binh khổng lồ Gô-li-at và chàng chăn cừu trẻ tuổi Đa-vit, chỉ được trang bị chiếc ná (1Sm 17,43-49).
Thậm chí các “bạn của Chúa” cũng biết cách làm cho lời cầu nguyện có hương vị hài hước, ví dụ như Áp-ra-ham (Is 41,8), Môi-sê (Xh 33,11). Thật là tuyệt vời khi nghe Áp-ra-ham cố gắng thuyết phục Thiên Chúa đừng trừng phạt thành phố Sô-đôm (St 18,17-33). Sau tội lỗi nghiêm trọng mà dân Ít-ra-en phạm phải khi tạo ra con bê vàng, Môi-sê kêu cầu và kể lể với Chúa cách rất đơn sơ, đầy niềm cậy trông, thấm đẫm nét hài hước nhẹ nhàng khiến chúng ta mỉm cười: “Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập? Tại sao người Ai-cập lại có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ…” (Xh 32,11-14).
Không thiếu sự hài hước nơi các sách Tiên tri. Hãy lưu ý cách Đức Chúa gọi Giê-rê-mi-a nhút nhát (Gr 1,4-10) và người nông dân thô lỗ A-mốt đã thú nhận: “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Đức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật và Đức Chúa đã truyền cho tôi: Hãy đi tuyên sấm cho Ít-ra-en dân Ta” (Am 7,14-15). Đặc biệt, câu chuyện về Giô-na là một ví dụ đẹp về sự mô phạm khôn ngoan và hài hước của Thiên Chúa.
Làm thế nào để nghĩ về Chúa Giê-su mà không nghĩ đến tính hài hước, Đấng đã đến để đem tin mừng cho thế gian và chính người là Tin Mừng? Chỉ cần nhớ lại một số phép ẩn dụ của Người để nhận ra sự hài hước tinh tế của Người: “Sao ngươi nhìn thấy cái rác trong mắt anh em mình, mà cái xà trong mắt mình lại không nhận ra?” (Mt 7,3); “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10,25). Thông thường, tinh thần hóm hỉnh của Chúa Giê-su có một chút mỉa mai và phê phán để phá bỏ sự tự phụ về khôn ngoan của con người hoặc sự khoa trương của kẻ kiêu ngạo. Đôi khi câu đùa hài hước xuất hiện như một nỗ lực tột độ trong tình yêu của người muốn đánh thức những trái tim chai đá và khép kín, như khi Người trách móc các kinh sư và người Pha-ri-sêu bằng những lời này: “Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà!” (Mt 23,24).
Sự hài hước của Chúa Giê-su cũng hướng đến các môn đệ. Một nụ cười thích thú hẳn đã nở trên môi Người khi thấy Phê-rô vội vã lao mình xuống nước, nhưng ngay lập tức sợ hãi khi cố gắng bước vài bước (Mt 14,24-33); hoặc khi Người bắt ông đi đánh cá để nộp thuế đền thờ (Mt 17,24-27). Người là một người sống nghèo khó và không quan tâm đến tiền bạc, đã biến một con cá thành chiếc ví của mình. Vì vậy, hẳn Người đã mỉm cười khi hai môn đệ trên đường Em-mau nói với Người: “Chỉ có ông là một người lạ ở Giê-ru-sa-lem! Ông không biết những gì đã xảy ra những ngày này?”. Danh sách các ví dụ về tính hài hước của Chúa Giê-su có thể viết đầy hết trang này đến trang khác.
Tính hài hước vẫn tiếp tục xuất hiện trong lịch sử Giáo hội sơ khai. Một trường hợp thật dễ thương là trường hợp Phê-rô được ra tù. Lòng tràn đầy niềm vui và biết ơn Chúa, ông vội vã đến nhà các môn đệ đang họp nhau để cầu nguyện và gõ cửa. Một người giúp việc chạy ra mở cửa, nhận ra tiếng ông Phê-rô, ngạc nhiên vì sự hiện diện bất ngờ của ông và tràn ngập niềm vui sướng, liền chạy đi báo tin, để ông Phê-rô ở ngoài cửa (x.Cv 12,1-17).
Bất cứ ai nghĩ rằng Phao-lô, một nhà thần học sâu sắc và là nhà truyền giáo Phúc Âm có một không hai, lại thiếu hài hước, thì chắc chắn người đó sai lầm. Ngài có thể nhìn mình cách khiêm tốn, không che giấu khuyết điểm của mình, biết cách cười nhạo bản thân. “Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi. [...] Tại Đa-mát, tổng đốc của vua A-rê-ta đã cho lính canh gác thành để bắt tôi. Nhưng người ta đã cho tôi vào một cái thúng, rồi thòng qua cửa sổ dọc theo tường thành. Thế là tôi thoát khỏi tay ông ta ” (2Cr 11,30-33). Trong khi các đối thủ của ông khoe khoang về sự khôn ngoan và những công việc vĩ đại mà họ đã làm, thì Phao-lô khoe khoang về một sự thật không mấy vẻ vang: sự trốn thoát của ông, ẩn náu trong một cái giỏ và được thả xuống từ cửa sổ. Ngài bật cười thích thú trước sự lúng túng và lố bịch đó, nhưng hài lòng vì mình đã trốn thoát một cách tài tình. Đối với những người thân yêu trung thành của mình, ngài nói những câu chuyện cười hài hước và tràn đầy tình cảm. Sau khi khuyên nhủ tín hữu Ga-lát hãy yêu thương và phục vụ nhau, ngài nói thêm với giọng bông đùa: “Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!” (Gl 5,15). Tương tự, ngài viết cho tín hữu Cô-rin-tô: “Anh em muốn gì? Muốn tôi mang roi vọt hay là đức bác ái và lòng nhân hậu mà đến với anh em?” (1Cr 4,21). Nơi Đức Giê-su, cũng như nơi tất cả những ai bước theo Người, tính hài hước là dấu hiệu của sự tự do nội tâm, của một trái tim đơn sơ và trong sạch, khôn ngoan và tràn đầy tình yêu mãnh liệt.
2. Tính hài hước nơi Maria Domenica Mazzarello
Cha Bosco được công nhận là vị thánh của niềm vui, nổi tiếng về khiếu hài hước, “sự thánh thiện hệ tại ở việc sống vui vẻ”. 573 Maria Domenica Mazzarello cũng chia sẻ đặc điểm tốt đẹp này với ngài. Thực vậy, tính hài hước là một trong những đặc điểm nơi sự thánh thiện của Mẹ. Mẹ tự bộc lộ niềm vui trong cách Mẹ mô tả bản thân và các chị em, khi xưng hô với mọi người, khi kể lại các sự kiện, khi chuẩn bị những điều bất ngờ và những câu chuyện cười để giữ cho cộng đoàn vui vẻ.
Maria Domenica nói một cách hài hước về bản thân, về lòng tự ái của mình: “Mẹ có nhiều khuyết điểm đến nỗi, có lúc mẹ vấp té và mẹ ngã lăn ra đất như một kẻ say rượu” (Thư số 9,9). Khiếu hài hước của Mẹ thể hiện một cách đặc biệt trong các lá thư viết cho Cha Giovanni Cagliero, giám đốc của Hội dòng (1874 - 1884), người mà Mẹ có một sự đồng điệu sâu sắc về con người và tinh thần. Khi viết lá thư có chữ ký đầu tiên của mình, Mẹ đã nói bằng một giọng hài hước với sự giản dị và khiêm tốn: “Với sự giúp đỡ của người khác, con xin nguệch ngoạc mấy điều” (Thư số 7,1). Với sự hài hước Mẹ xin ngài đừng quên các cô con gái của Mornese: “Xin cha thỉnh thoảng nhớ cho là cha có hàng trăm người con đang ở vùng quê có tên gọi Mornese, trong số những người con đó, có một vài người (đặc biệt người viết thư này) khá tinh nghịch. Vì vậy, khi Ðức Giê-su vô cùng vâng phục ngự xuống trên tay cha, xin cha cầu nguyện một lời, để Người ban cho chúng con mọi sự. Ðặc biệt, xin cha nài van Người để đừng bao giờ có ai trong nhà này xúc phạm đến Người, dù trong những chuyện nhỏ mọn nhất” (Thư số 4,11).
Trong các lá thư gửi cho Cha Cagliero, Mẹ đã nhiều lần bày tỏ ước mong truyền giáo của mình. Trong Thư số 5, sau khi liệt kê các FMA muốn ra đi, Mẹ tiếp tục viết với vẻ hóm hỉnh: “Do vậy, xin cha sớm chuẩn bị một chỗ nhỏ bé cho chúng con, rồi đến đem chúng con đi, vì một mình chúng con [sang Mỹ] không biết đến đó cách nào, và có thể xảy ra khi chúng con đi một mình, vài con thủy quái đói bụng sẽ biến chúng con làm mồi ngon cho chúng mất” (Thư số 5,9).
Trong một lá thư khác, Mẹ lại viết: “Giám đốc [Cha Costamagna] cứ nói chúng con còn trẻ quá, nhưng con thấy hình như chúng con đã già rồi. Cha biết không, con hầu như rụng hết răng, chỉ còn hai chiếc khiến mọi người khiếp sợ vì chúng dài quá, tóc con cũng bạc nhiều, nhiều lắm, dù cho chiếc mũ trùm bên trong đã che kín! Ðể hù doạ con, người ta nói bên Mỹ châu có những người ăn thịt các Ki-tô hữu; nhưng con chẳng sợ đâu bởi vì thịt con khô khốc, chắc chắn chúng chẳng muốn ăn” (Thư số 9,4). Giọng điệu hài hước của cụm từ “già” nên được nhấn mạnh nếu chúng ta cho rằng Mẹ Mazzarello 39 tuổi và Cha Costamagna kém chín tuổi và các chị em đều còn trẻ. Trong thư số 9, Mẹ cũng nhắc nhớ cha Cagliero: “Bây giờ xin cha lắng nghe điều con muốn nói với cha. Cha có biết điều con muốn thực sự là gì không? Một chỗ ở Mỹ châu. Thực sự con chẳng biết làm gì, nhưng con biết nấu bột bắp và rồi con sẽ lưu ý khi giặt giũ để không tốn nhiều xà bông; và nếu cha muốn, con sẽ học nấu bếp một chút, tóm lại, con sẽ làm mọi sự trong khả năng để mọi người hài lòng, miễn là cho con được đến đó” (Thư số 6,11).
Trong tất cả các lá thư này, Mẹ thể hiện tất cả con người mình: một người nữ tự do, có một khoảng cách nội tâm nhất định với chính mình, người biết tự cười chính mình và nhìn vào giới hạn của chính mình một cách thanh thản, không khinh thường và kềm nén. Theo nghĩa này, tính hài hước có liên quan đến sự mỉa mai. Sự mỉa mai Ki-tô giáo trước tiên là sự tự mỉa mai, một thái độ tạm ngưng phán xét cách gay gắt đối với người khác, đồng thời sẵn sàng nhận ra những hạn chế của chính mình với lòng thương xót. Chính tại thời điểm này, mối quan hệ hợp tác giữa tính hài hước và khiêm tốn được củng cố. Hai đức tính đến từ cùng một gốc humus, nghĩa là đất, cũng là gốc rễ của humanitas - nhân loại. Hữu thể con người là vậy nếu tự nhận mình sinh ra từ đất, được cấu tạo từ bùn đất, có giới hạn. Tuy nhiên, theo bản văn Kinh Thánh, Đức Chúa đã thổi linh hồn của mình vào bản chất mong manh, dơ bẩn này, rồi nâng con người lên vị thế cao nhất trong các thụ tạo, theo hình ảnh và dung mạo của Người, Người cứu chuộc con người khỏi bản chất đơn thuần. Và không phải ngẫu nhiên mà một cách nói khác hóm hỉnh để nói về sự hài hước: một người hài hước là một người hóm hỉnh, có khả năng đối đáp “có tinh thần”. 574
Ngay cả trong mối quan hệ với các nữ tu của mình, Maria Domenica vẫn thể hiện mình là người tràn đầy tính hài hước lành mạnh. Mẹ báo tin về gia đình cho nhà truyền giáo nữ tu Angela Denegri: “Ba mẹ của con khỏe mạnh, họ có đưa cho mẹ một cây xúc xích mặn để gởi cho con, nhưng bởi vì con ở quá xa nên mẹ nghĩ là chúng tôi nên giữ lại để dùng; còn con thì nhớ cám ơn các ngài nhé?” (Thư số 22,12). Mẹ biết cách chuyển từ những chủ đề hài hước sang những chủ đề đầy thách thức trong cuộc sống. Mẹ viết cho Sơ Filomena Balduzzi: “Con vẫn luôn vui tươi như ở đây chứ, con có yêu mến Chúa nhiều không? Con có nóng giận khi bếp lửa không cháy không? Con hãy kiên nhẫn và hãy lo thắp lên nơi mình tình yêu thần linh, con hãy sống vui tươi và cầu nguyện cho Mẹ” (Thư số 23,5). Đó là một cách nói đầy vui tươi và tình mẫu tử, chạm đến trái tim, để nói những điều quan trọng mà không làm mất lòng ai.
Với khiếu hài hước, Maria Domenica cũng biết cách xoa dịu những tình huống phức tạp và khó khăn. Khi viết thư cho cha Giovanni Cagliero, Mẹ đã thông báo về những gì đã xảy ra trước đó không lâu trong cộng đoàn: sự kỳ lạ của Agostina Simbeni. 575 Theo một số lời khai, cô gái đã được Hội Tam Điểm cử đến để phá Hội dòng, một trường hợp thực sự bệnh hoạn và ma quỷ đã gây chấn động cộng đoàn trong vài tháng, gây ra rất nhiều sự sợ hãi, đặc biệt là nơi các thanh thiếu nữ. Maria Domenica mô tả chi tiết tình huống cho cha Cagliero, theo một cách hài hước, uyển chuyển để người đọc hình dung rõ ràng về khung cảnh đó. Mẹ không bi kịch hóa tình hình vốn rất khó giải quyết. Ở cuối lá thư, khi Mẹ đảm bảo rằng cộng đoàn đã tìm cách loại bỏ cô gái bằng cách đuổi cô ta khỏi Mornese, Mẹ khẳng định: “Do đó, theo lệnh của Cha Bosco, chúng con đã cho cô ta đi Roma để làm các phép lạ” (x.Thư số 6,5-7). Thành ngữ “đi Roma để làm các phép lạ” cho thấy khiếu hài hước tinh tế của Maria Domenica và biểu thị sự nhạy bén của Mẹ trong việc hiểu và phân biệt mọi người cũng như các tình huống.
Kể cả với các vị Giám đốc Sa-lê-diêng, Mẹ biết cách giảm bớt một số lời chỉ trích và tạo ra một chút hài hước để cân bằng tình hình. Cha Giacomo Costamagna, người muốn tất cả FMA “làm thánh bằng mọi giá”, với đầy nhiệt huyết khổ chế và tông đồ, đôi khi hơi vượt quá mức, còn Mẹ Mazzarello lại biết cách cân bằng tình hình. Một đêm nọ, Mẹ và một số nữ tu nán lại trong phòng may để hoàn thành một số công việc. Giám đốc đã chú ý đến ánh sáng, tiếng nói và cảnh cáo để duy trì sự im lặng nghiêm ngặt. “Các nữ tu run sợ cho Mẹ hơn là cho mình, còn Mẹ muốn giúp các nữ tu ra khỏi nguy cơ bất tuân phục và để vị giám đốc không có cơ hội la mắng từ ngoài sân, thế là Mẹ ra hiệu cho các chị em im lặng và với một nụ cười hóm hỉnh, Mẹ giơ tay đập mạnh vào ngọn đèn và dập tắt nó. Đôi bên im lặng! Khi tiếng bước chân của ngài lặng dần trong sân, Mẹ thắp đèn lên và nín cười, rồi nói với các nữ tu: “Tội nghiệp cha giám đốc, ngài đã phải trả giá bao nhiêu để biến chúng ta thành những tu sĩ chân chính!” “ 576
Hài hước là một phần của phương pháp sư phạm của niềm vui: nó tạo ra một bầu khí lễ hội trong cuộc sống bình thường hàng ngày. Ngay cả những trò đùa nho nhỏ để giữ cho cộng đoàn luôn vui vẻ, thoải mái và thanh thản cũng là một nét đặc trưng của Mẹ Mazzarello, chẳng hạn như khi Mẹ căn dặn cả cộng đoàn phải sẵn sàng trang phục để chào đón chuyến viếng thăm của một “quý bà quan trọng”. Tất cả đều nỗ lực hết mình và khoác vào bộ cánh dạ tiệc trang nghiêm. Rồi cách vô cùng ngạc nhiên Mẹ hô to lên: Đây là “quý bà” vĩ đại: một con bò xinh đẹp do chị Assunta điều khiển, được trang trí bằng những bông hoa giấy đỏ xuất hiện! Một khi chúng tôi hiểu trò đùa, tất cả họ đều cười vui vẻ và hưởng nếm việc ở cùng nhau. 577 Đây là một phiên bản Mornese đầy nữ tính và thật đẹp về cách “nên thánh hệ tại ở việc sống vui vẻ”.
Chú thích
573 Đc Bosco Giovanni, La vita del giovanetto Savio Domenico allievo dell’Oratorio di S. Francesco di Sales, trong Fonti Salesiane I 1065.
574 Monda Andrea, L’umorismo virtù fondamentale del cristiano, trong https://www.osservatoreromano.va/it/news/2020-06/l-umorismo-virtu-fondamentale-del-cristiano. html (19.02.2022).
575 Đc Hồi sử II 188-192.
576 Hồi sử II 219.
577 Đc Hồi sử III 12-13.