FMA Logo

20. Cuộc sống mới nảy sinh từ cuộc gặp gỡ giữa hai người nữ qua tình bạn



Ha Fong Maria KO

Chúng ta đang ở năm 1860, khi M. D. Mazzarello 23 tuổi. Sau cơn sốt phát ban trầm trọng và thể lực tụt xuống cách không thể cứu vãn được, Thánh nữ đứng trước một tình thế bấp bênh, cần phân định và khám phá. Thánh nữ cảm nghiệm sâu sắc sự mong manh và nghèo khó của mình, đồng thời tín thác vào Thiên Chúa. Lời cầu nguyện của Thánh nữ cho thấy sự phó thác hoàn toàn này: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn cho con sống thêm vài năm nữa, thì xin cho mọi người lãng quên con đi”. 578 Tâm tình cầu nguyện này chính là mảnh đất mà Thiên Chúa yêu thích làm việc với sự mới lạ đáng ngạc nhiên. Phao-lô biết rõ nghịch lý này: “Khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10); “Dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới” (2Cr 4,16).

Được thúc đẩy bởi “thị kiến” của đồi Borgoalto và bởi giọng nói bí ẩn “Ta trao phó chúng cho con”, Maria Mazzarello ngày càng nhận thức rõ hơn về trực giác giáo dục mà Thánh nữ đã có trong một thời gian. Ngang qua một kế hoạch thiêng liêng, Thiên Chúa đã mở ra một bước ngoặt trong cuộc đời của Mazzarello. Nó giống như một mong muốn, một giấc mơ, một khuynh hướng, một sự hấp dẫn, một sự thúc đẩy, xuất hiện rõ dần và dưới dạng nhất quán hơn. Trong Tin Mừng, Chúa Giê-su thường đồng hành với quá trình tìm kiếm và phân định này bằng những câu hỏi ngắn gọn và trực tiếp hầu giúp tìm ra điểm hấp dẫn: “Các ngươi đang tìm kiếm cái gì?” (Ga 1,38); “Anh có muốn được chữa lành?” (Ga 5,6); “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” (Mc 10,51 ; 10,36).

Những dấu chỉ của Thiên Chúa thì không thiếu cho những ai biết đón nhận chúng với sự chú tâm và với tâm hồn trong sạch. Những dấu chỉ thường biểu tỏ qua sự đồng hành của những người khôn ngoan giàu kinh nghiệm tâm linh, hoặc đơn giản là qua tình bạn, như trong cuộc đối thoại giữa Maria Mazzarello và bạn của Thánh nữ là Petronilla vào một buổi sáng khi họ rời nhà thờ: “Nghe này, Petronilla, đối với em, có vẻ như Chúa muốn hai chúng ta chăm sóc các thanh thiếu nữ của Mornese [...]. Bạn không nghĩ rằng nếu biết may vá, chúng ta có thể thành công sao? […] Bạn biết đấy, chúng ta làm điều này là cần thiết, nhưng bạn lưu ý: từ giờ trở đi chúng ta phải đặt mục tiêu rằng mỗi đường kim mũi chỉ là một hành động yêu mến Chúa”. 579

Sự truyền thông và chia sẻ giữa các cá nhân là một cách cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa, đồng thời, làm phong phú con người mình. Một “tình bạn thực sự và tình huynh đệ” giữa các nữ tu là đặc nét của tinh thần gia đình phải ngự trị trong các cộng đoàn Con Đức Mẹ Phù Hộ (HL 50); và “sự hiện diện của tình bạn khơi dậy lòng yêu mến và tin tưởng” là yếu tố không thể thay thế của khoa sư phạm Sa-lê-diêng (HL 55). Trong kế hoạch đầy ngạc nhiên của Thiên Chúa, Hội dòng FMA bắt đầu sự hiện diện ở dạng phôi thai, khởi đi từ cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn.

Cuộc sống mới phát sinh từ cuộc gặp gỡ của hai người nữ: đây là một thực tại mà chúng ta đã tìm thấy trong Kinh Thánh. Chúng tôi gợi lại hai thánh tượng (icon), một từ Tân Ước và một từ Cựu Ước.

1. Đức Maria và bà Ê-li-sa-bét

Đoạn văn về cuộc viếng thăm, cuộc gặp gỡ giữa bà Ê-li-sa-bét và Đức Maria (Lc 1,39-56) là đoạn văn duy nhất của Tân Ước mà chúng ta tìm thấy để nói về cuộc gặp gỡ giữa hai nhân vật nữ. Những người đàn ông - kinh sư, linh mục, chính quyền và quân sự - dường như đã bị gạt sang một bên. Vào thời điểm được gọi là thời gian đến hồi viên mãn (x. Gl 4,4), nhân vật chính lại là hai người phụ nữ. Bối cảnh nền là ngôi nhà, một môi trường sống hàng ngày. Bước vào nhà của ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, Đức Maria mang Con Thiên Chúa, vẫn còn ẩn náu và vô hình, vào bầu khí gia đình, vào hiện trạng của cuộc sống hàng ngày, vào sự đan xen của những tình cảm chân thật, vào sự cụ thể của đời sống gia đình, được tạo thành từ những niềm vui, đau khổ, lo lắng, vấn đề, ước mơ, kỳ vọng, kế hoạch, căng thẳng, xung đột, hòa giải và tất cả những điều lớn nhỏ làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Đức Maria khai mở một kiểu tương quan mới giữa Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa làm cho mình trở nên gần gũi, dễ tiếp cận. Người đến thăm con người bằng cách bước vào không gian quan trọng của con người, Người để mình tham gia triệt để vào thực tại cụ thể của con người.

Khung cảnh đơn sơ nhưng dạt dào vẻ đẹp mê hồn, bao trùm trong một bầu khí huyền bí báo trước một điều gì đó vĩ đại, kỳ diệu.

Bà Ê-li-sa-bét và Đức Maria: hai người phụ nữ mang thai, mong đợi tương lai của thai nhi trong lòng mình; hai người phụ nữ lưu giữ trong mình một mầu nhiệm khôn tả, một phép lạ kỳ diệu, một niềm vui không thể kìm nén. Ngoài quan hệ họ hàng và tình bạn, họ còn liên kết với nhau bằng một mối quan hệ sâu sắc hơn nhiều. Ý thức mình là đối tượng của sự ưu ái đặc biệt từ phía Thiên Chúa Đấng đã nối kết họ; sứ mệnh chung là cộng tác với Chúa cho một kế hoạch cao cả làm họ vui mừng; kinh nghiệm của tình mẫu tử phi thường khiến họ liên kết với nhau. Nếu phép lạ của Thiên Chúa nơi bà Ê-li-sa-bét là một “dấu chỉ” giúp cho Đức Maria ca lên lời “xin vâng” của mình, thì giờ đây phép lạ Thiên Chúa thực hiện nơi Đức Maria cũng là một “dấu chỉ” khơi dậy nơi bà Ê-li-sa-bét một niềm vui khôn tả. Vì vậy, hai người phụ nữ, người này đối với người kia, là nơi khám phá ra Thiên Chúa, là sự hiển linh về sự cao cả của Chúa và là lý do để ca ngợi và cảm tạ Người. Khi nhận ra nhau như một dấu chỉ của Thiên Chúa, tương quan của họ tràn đầy trực giác và mong đợi sâu sắc, thấm đậm sự tôn trọng đối với mầu nhiệm, trở thành bài hát và bài thơ.

Hai người phụ nữ tương quan với nhau mà không cần nhiều lời. Họ hiểu nhau trước cả khi họ nói. Họ hòa hợp ngay lập tức trong sự cộng hưởng lẫn nhau. Cuộc đối thoại của họ biểu lộ giá trị kiểu mẫu của tất cả các tương quan đích thực của con người. Trước lời chào của Đức Maria, bà Ê-li-sa-bét, được đầy Thánh Thần, đáp lại bằng lời chúc tụng: “Em được chúc phúc giữa các người phụ nữ và người con trong lòng em cũng được chúc phúc”, với lời tuyên xưng đức tin, “Bởi đâu tôi được mẹ của Chúa đến với tôi?” và với một lời chúc phúc: “Phúc thay em đã tin lời Chúa được ứng nghiệm”. Về phần mình, Đức Maria ngợi khen Đức Chúa bằng bài ca Magnificat.

Hai người phụ nữ này gắn kết với nhau bằng một mối giao cảm sâu xa vượt lên trên từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động.

Ngoài sự tinh tế của giới nữ, cần nhấn mạnh đến giá trị của hy vọng, của sự mới lạ và của niềm vui lan tỏa được Lu-ca thổi vào câu chuyện này. Niềm vui tươi mới và trong sáng của người nữ trẻ Maria khơi dậy niềm hân hoan đầy cảm động và dịu dàng của người mẹ già Ê-li-sa-bét. Ngay cả ông Da-ca-ri-a, khép mình trong im lặng, cũng cảm thấy lời mà Sứ thần đã hứa với ông sắp hoàn thành: “Ông sẽ được vui mừng hớn hở” (Lc 1,14). Và đứa trẻ trong bụng mẹ cũng cho thấy niềm vui của nó qua việc nhảy mừng. “Thiếu nữ bấy giờ vui nhảy múa, trẻ già cùng mở hội tưng bừng” (Gr 31,13). Những đứa trẻ được sinh ra và những người nữ, người già đến tuổi sung mãn, gặp nhau và hiệp nhất trong niềm vui, ca ngợi cùng một Thiên Chúa, Đấng muốn tất cả con cái của mình được hạnh phúc. Đức Maria, người “được gọi là có phúc của tất cả các thế hệ”, là sợi dây liên kết niềm vui giữa các thế hệ.

Một chi tiết khác không thể bỏ qua là biến cố thăm viếng diễn ra ngay sau biến cố truyền tin. Hai giai thoại được kết nối bằng một chuyển động nhanh: “Trong những ngày ấy, Ma-ri-a chỗi dậy và vội vã lên đường, đến một thành thuộc xứ Giu-đa” (Lc 1,39). Với trực giác tuyệt vời, truyền thống Ki-tô giáo đã soạn ra một lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện mang chất tin mừng luôn lan rộng khắp nơi và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng bà”: đây là những lời của Thiên thần khi truyền tin. “Mẹ được chúc phúc giữa các người phụ nữ và con lòng Mẹ cũng được chúc phúc”, đây là lời của bà Ê-li-sa-bét trong biến cố thăm viếng. Sau sự lắng nghe đến từ trên cao, tiếp theo đó là sự lắng nghe lẫn nhau. Chỉ trong giây phút trao đổi thứ hai theo chiều ngang này, sự hiểu biết đầy đủ nhất về món quà của Thiên Chúa mới diễn ra, niềm vui được nên trọn vẹn và lời ca được phát ra từ trái tim.

Dưới ánh sáng của cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà Ê-li-sa-bét, cuộc gặp gỡ của Maria Mazzarello và Petronilla mang một ý nghĩa và vẻ đẹp đặc biệt. Đây là lý do tại sao Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ luôn muốn ca lên bản Magnificat kéo dài trong thời gian và không gian của mỗi cộng đoàn. Và cùng với bài hát cũng là bầu khí từ nó phát ra: bản Magnificat được kéo dài trong cuộc sống hàng ngày giữa các chị em và với giới trẻ (x. HL 62).

2. Bà Na-ô-mi và Rút

Ngay cả Cựu Ước cũng thuật lại một câu chuyện trong một cuốn sách, minh họa vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ giữa hai người phụ nữ. Đó là sách Rút, một viên ngọc quý của nền văn học Do Thái. Sách có cốt truyện đơn giản, gần như là một nhật ký gia đình với hương vị của cuộc sống hàng ngày. Câu chuyện lan tỏa hơi ấm tình người và sự tinh tế của phụ nữ cách dịu dàng. Nơi con người bà Na-ô-mi và Rút, bà góa già của Ít-ra-en và cô con dâu trẻ của Mô-áp, tồn tại hai dân tộc, hai nền văn hóa, hai thế hệ đối kháng nhau. Tuy nhiên, tình yêu lại nối kết họ một cách mật thiết. Họ chứng minh rằng cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa, sự đối thoại giữa các thế hệ, sự tiếp nhận tính khác biệt và sự mở ra phổ quát là điều có thể, khi có tình yêu. “Ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa”. Thiên Chúa hiện diện trong lịch sử của gia đình này qua những dấu ấn của đau khổ: nạn đói, di cư, bệnh tật, chết chóc, nghèo đói. Khuôn mặt của Thiên Chúa được phản chiếu nơi hai người phụ nữ nhỏ bé và bất lực. Thiên Chúa làm cho mình được nhận ra trong sự thuần khiết và chiều sâu của tình yêu con người. Qua trực giác nữ tính, qua sự giản dị trong gia đình, qua chứng tá và tình liên đới giữa những người phụ nữ, Thiên Chúa đi vào cuộc sống và được nhìn nhận từ người này sang người khác. “Thiên Chúa của mẹ cũng sẽ là Thiên Chúa của con” (R 1,16): đó là lời tuyên xưng đức tin chân thành và thiết yếu của Rút, mà không cần tranh luận nhiều về giáo lý. Thiên Chúa, Đấng sống trong mối liên hệ nội tại Ba Ngôi, thích tỏ mình ra trong sự hiệp thông nội tại. Người yêu thích được khám phá trong tình yêu thương lẫn nhau giữa các con trai và con gái của mình.

Sự đồng hành hỗ tương của hai người phụ nữ trở thành nền tảng cho sự sống mới, cho hành trình nơi Thiên Chúa đi qua, cho không gian nơi Người thực hiện những điều cao cả. Vì vậy, Rút, một góa phụ ngoại quốc, trở thành tổ tiên của Đấng Mê-si-a một cách nhiệm mầu và không hề hay biết đã cộng tác với Thiên Chúa trong việc để Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Thật thú vị khi lưu ý rằng, khi Ô-vét chào đời, hoa trái của sự kết hợp giữa Rút và Bô-át, những người hàng xóm đã chúc mừng nhau rằng: “Một đứa con trai được sinh ra cho Na-o-mi!” (R 4,17). Không ai ngạc nhiên! Nếu hai người phụ nữ này đều nhận ra Thiên Chúa là một phúc lành, cần lan truyền với một sự chuyển biến đơn giản từ “của bạn” sang “của tôi”, thì có gì mà họ không thể chia sẻ?

Ngay cả những trang Kinh Thánh này, nếu được đọc dưới ánh sáng của cuộc gặp gỡ giữa Maria Mazzarello và Petronilla, có thể mở ra một chân trời rộng lớn cho các FMA ngày nay, những người tìm cách sống như những “cộng đoàn sản sinh sự sống” 580 vào năm thứ 150 của việc thành lập Hội dòng.


Chú thích

578 Maccono I 83-84.

579 Hồi sử I 97-99.

580 Đc Tema del Capitolo Generale XXIV delle FMA, 2021.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026