FMA Logo

21. “Thiên tài nữ tính”



Maria Dolores Ruiz Perez

Ngay từ những trang đầu tiên của Kinh Thánh, chúng ta có thể hiểu được tầm quan trọng của hình ảnh người nữ trong lịch sử cứu độ. Nữ giới được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, nên bình đẳng với nam giới. Từ khi khai sinh dân tộc Ít-ra-en, bên cạnh các tổ phụ vĩ đại, chúng ta tìm thấy các dung mạo nữ giới, những người đóng vai trò nền tảng trong kế hoạch của Thiên Chúa. Dọc dài lịch sử, trong mọi thời đại, phụ nữ xuất hiện với những món quà và nhiệm vụ cụ thể, chẳng hạn như: Bà Mi-ri-am, em gái của Môi-sê và A-ha-ron (x. Xh 15,20-21; Ds 12,1); Bà Đê-bô-ra, thẩm phán Ít-ra-en (x. Tl 4,4-5; 5,1-31); Bà Anna, mẹ của Sa-mu-en (x. 1Sm 1,1-2,11). Bà Rút, Giu-đít và Ét-te là những người phụ nữ luôn can đảm và tin tưởng vào Chúa, những sự kiện phi thường của họ được kể lại trong những cuốn sách mang tên họ. Ngoài ra còn có nhiều phụ nữ vô danh nhưng không kém phần quan trọng, bao gồm: con gái của vua Pha-ra-on đã nhận nuôi Môi-sê, góa phụ Sa-rép-ta, người con trai của bà được tiên tri Ê-li-a cho sống lại từ cõi chết (x. 1V 17,8-24) và mẹ của Ma-ca-bê, người với đức tin và lòng can đảm đã ủng hộ các con của mình trong cuộc tử đạo (x. 2Mac 7,20-22).

Mặc khải của Thiên Chúa đi qua nhiều hoàn cảnh, con người, sứ điệp. Người không mặc khải theo một khuôn mẫu cố định mà thường hành động theo những cách đáng ngạc nhiên. Nếu các nền văn hóa xã hội của con người càng gạt phụ nữ ra ngoài lề, thì Thiên Chúa càng đưa họ vào kế hoạch của Người, khiến họ trở thành trung gian cho tình yêu quan phòng của Người. Khi đối mặt với những thử thách khó khăn nhất, trong những thời điểm bấp bênh, luôn cần một hỗ trợ đầy khôn ngoan và động lực lớn của niềm hy vọng, nên Thiên Chúa “kích hoạt” thiên tài nữ tính: một món quà mà Chúa yêu thương và hào phóng trao ban cho những người phụ nữ đơn sơ giản dị. Trong Kinh Thánh, nhiều lần chính người phụ nữ với trực giác khôn ngoan của mình đã tạo nên sự thay đổi trong hàng loạt các biến cố.

Phụ nữ có một sự sáng suốt đặc biệt trong việc giải thích các tình huống, trong việc nắm bắt các cơ hội, trong việc cộng tác một cách tế nhị và thận trọng vào kế hoạch của Thiên Chúa. Có rất nhiều mẫu gương nữ giới trong Kinh Thánh, nhưng có một mẫu gương tuyệt vời là Đức Maria, người thể hiện tối đa “thiên tài nữ tính”. Đức Maria là trưởng nữ của nhiều phụ nữ khác, giống như Mẹ, họ tiếp tục cộng tác với Thiên Chúa để gây ngạc nhiên và làm phong phú hóa thế giới, trong số này có Maria Domenica Mazzarello.

1. Sự tự do của Chúa trong việc chọn những con đường bất ngờ

Bà Rê-bec-ca, vợ của I-sa-ác, ban đầu vô sinh, sau đó sinh được con nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa, cảm thấy đứa con trong lòng của mình trở thành dấu hiệu chia rẽ Ít-ra-en. Đứa trẻ này là người duy nhất bảo vệ lời tiên tri đầy bí nhiệm của Thiên Chúa: “Hai quốc gia trong cung lòng bà và từ trong lòng bà sẽ bị chia ra hai dân tộc; dân tộc này sẽ mạnh hơn dân tộc kia và kẻ vĩ đại hơn sẽ phục vụ kẻ thấp kém hơn” (St 25,23). Chính nhờ mưu kế của bà mẹ mà đứa con út Gia-cóp mới chiếm được phần phước dành cho anh cả Ê-sau. Kế hoạch lừa dối thành công. Ông Gia-cóp cướp lấy phước lành từ I-sa-ác và trở thành người thừa kế chính của những lời hứa thiêng liêng dành cho Áp-ra-ham.

Xuyên suốt câu chuyện này, người viết tiểu sử nhìn thấy bàn tay của Đấng Quan phòng và bà Rê-bec-ca là công cụ của Chúa, đã tự do lựa chọn người sẽ tiếp tục phước lành của Chúa trong lịch sử, đồng thời thoát ra khỏi lối suy nghĩ theo logic của con người. Thiên Chúa sẽ còn đưa ra những lựa chọn nghịch lý này nhiều lần: Người chọn Giu-se hơn là các anh trai của mình; chọn Đa-vít, người con trai út trong số những người con trai đẹp và cường tráng của Giê-sê.

Chắc chắn, ở đây có một mầu nhiệm - mầu nhiệm về sự tuyển chọn của Thiên Chúa - không tùy thuộc vào bất cứ lề luật nào của con người, nhưng tùy thuộc vào sự tự do của Thiên Chúa. Giống như thánh Phao-lô giải thích trong Rm 9,6-13 khi suy tư về nghịch lý của lịch sử Ít-ra-en. Luật pháp nhân loại, tùy theo các thế hệ, hoàn toàn không được đề cập ở đây. Ít-ma-en là con trai cả của Áp-ra-ham và không được thừa hưởng những lời hứa thiên sai. Ê-sau là con đầu lòng của I-sa-ac và chính ông cũng sẽ bị loại ra. Lời hứa phát sinh từ ý muốn tự do của Thiên Chúa và được thông truyền theo ý muốn này. Thánh Phao-lô sử dụng phép ẩn dụ về chiếc bình do người thợ gốm tạo hình để minh họa cho sự tự do cao cả của Thiên Chúa: Liệu chiếc bình được tạo hình có dám nói với người đã tạo hình nó: “Hỡi bạn, bạn là ai mà dám cãi lại Thiên Chúa? Chẳng lẽ sản phẩm lại nói với người sản xuất: Sao ông làm ra tôi như thế này? Phải chăng thợ gốm không có quyền dùng đất sét theo ý mình: từ cùng một nắm đất mà nắn ra đồ vật khác nhau, cái thì dùng vào việc cao quý, cái thì dùng vào việc thấp” (Rm 9,20-21). Cuối cùng, ông kết thúc bằng một câu cảm thán đầy kinh ngạc: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được!” (Rm 11,33).

Maria Mazzarello đã được Chúa chọn trước khi Thánh nữ gặp Cha Bosco. Đối với các thanh thiếu nữ và phụ nữ ở Mornese, Thánh nữ là một giáo viên và một người hướng dẫn. Thánh nữ đã giúp họ lớn lên và trưởng thành cách trọn vẹn, Thánh nữ đã làm điều đó dưới sự hướng dẫn của Thần Khí, theo cùng một phong cách giáo dục của Cha Bosco, mặc dù, lúc đó Thánh nữ không biết gì về điều Cha Bosco làm. Thánh nữ sở hữu sự khôn ngoan chân chất của vùng đất của mình, nhất là Thánh nữ sống kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và lấy Bí tích Thánh Thể làm sức mạnh cho mình. Vì vậy Thánh nữ là viên đá đầu tiên của một Hội dòng giáo dục. Nói theo kiểu con người, sẽ hợp lý và thuận tiện hơn nếu chọn một phụ nữ có học thức, có kỹ năng sư phạm, có quan hệ rộng, có tầm ảnh hưởng, v.v... nhưng Thiên Chúa đã chọn Maria Mazzarello, cũng như Thánh nữ đã chọn Người và đã thực hành một cách thực tế “phương pháp sư phạm Sa-lê-diêng” với trực giác được linh hứng từ Chúa Thánh Thần. Những người “bước đi trong Thần Khí” (Gl 5,16,25) nhận được đặc ân là có nhãn quan của Thiên Chúa về nhiều quyết định trong cuộc sống: Đấng hướng dẫn qua Lời của Người. Mazzarello đã tinh luyện khả năng nhận biết Thiên Chúa bằng cách không ngừng lắng nghe trái tim mình, bằng cách thực hiện những gì Chúa muốn và bằng hành động giáo dục được thúc đẩy bởi đức ái mục tử.

2. Sự “đồng thuận” nữ tính trong việc thực hiện kế hoạch thánh thiêng

Bà Nô-e-mi và con dâu Rút là hai người phụ nữ rất nghèo, đằng sau họ là một câu chuyện ảm đạm: cái chết của những người đàn ông trong gia đình. Bà Na-ô-mi cùng Rút trở về quê hương Bê-lêm với cảm nhận rằng bàn tay của Thiên Chúa đã chống lại bà (x. R 1,13). Còn bà Rút đã có một quyết định dũng cảm là không để bà Na-ô-mi một mình và sau khi đến Bê-lêm, cô ấy tiếp tục có những sáng kiến để hỗ trợ cả hai người: cô đã xin phép mẹ chồng đi gặt ruộng cho người họ hàng xa của chồng đã chết. Sau này, câu chuyện được chinh phục bởi chiều kích thần học đầy đủ của nó. Trong tình thế hết sức bấp bênh, các luật bảo vệ người nghèo được tái lập và xác định: buộc để lại lúa mì cho người nghèo và cho những người ngoại quốc mót lấy. Hình bóng của Goel hay “người giải cứu” của người nghèo và cuối cùng là luật “tư tế” bắt buộc đàn ông phải bảo vệ những phụ nữ góa bụa, cô đơn và nghèo khó (x. Lv 23).

Trong tình bạn và tình tương thân tương ái, hai người phụ nữ này thể hiện sự sáng tạo, trực giác nhạy bén và sự tháo vát đáng ngạc nhiên. Hơn nữa, trong mối quan hệ giữa họ và qua hành động của họ, họ thể hiện sự hiểu biết lẫn nhau và sâu xa hơn nữa, là một sự hợp tác thanh thản, một sự “đồng thuận” đầy thân thiện để đạt được những mục tiêu theo như ý Chúa. Bô-át ca ngợi hai người phụ nữ mà Chúa đã cho ông gặp gỡ trong cuộc đời và ông nhận ra sự hướng dẫn khôn ngoan của Thiên Chúa Ít-ra-en trong mọi thăng trầm của họ (x. R 2,12).

Maria Domenica Mazzarello cũng có kinh nghiệm về một tình bạn sâu sắc trong mọi giai đoạn của cuộc đời. Đáng nói đến là tình bạn với Petronilla, bắt đầu từ khi còn trẻ và kéo dài suốt cuộc đời Thánh nữ. Sau rất nhiều năm, bản thân Petronilla đã nhớ lại thuở ban đầu: “Khi cả hai chúng tôi vẫn còn là những thiếu nữ trẻ, tôi đã thấy cô ấy trên đường đến nhà thờ, trước cánh cửa vẫn đóng kín khi kinh truyền tin ban sáng vẫn chưa được cất lên. Cô ấy mời tôi và nói: ‘Đến đây, tôi muốn cảnh báo bạn về một khuyết điểm’. Tôi đã đến và cô ấy nói với tôi: ‘Chúng ta đang ở đây trước cánh cửa đóng kín, tại sao bạn không mời tôi cùng cầu nguyện? Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện vì lời cầu nguyện chung có giá trị hơn’. 581 Tình bạn giữa hai thiếu nữ đã thúc đẩy điều tốt đẹp nơi người kia. Họ cùng nhau chia sẻ một kế hoạch, nó dần dần chín muồi và trở thành một hoạt động tông đồ mãnh liệt với những hoa trái thánh thiện minh nhiên.

Khi bị suy yếu vì bệnh tật, Maria Domenica tìm kiếm ý muốn của Thiên Chúa dành cho mình: phải làm gì với cuộc sống? Thánh nữ chắc chắn một điều: nếu Chúa đã cứu mình, chắc chắn Người đã có một kế hoạch mới cho mình. Và Thánh nữ đã không sai... Với sự giúp đỡ của Petronilla và sự đồng hành của Cha Pestarino, Maria Domenica đã quyết định chăm sóc các thanh thiếu nữ Mornese, quyết định này được đơm hoa kết trái với sự ra đời của xưởng may đầu tiên, của nguyện xá đầu tiên và cuối cùng là mái ấm gia đình đầu tiên.

Maria Mazzarello đã sống tình bạn chân chính, ngay cả trong kinh nghiệm nhóm. Đối với Các Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (FMI), tác phẩm Tình bạn thiêng liêng 582 của Frassinetti là một bản văn được đọc, suy gẫm và thực hành. Frassinetti đề nghị thành lập các nhóm trẻ nữ liên kết với nhau bằng một “tình bạn thánh thiện” để giúp đỡ lẫn nhau, nhằm mục đích “thánh hóa cá nhân” và hoạt động tông đồ. Với việc thành lập Hội dòng FMA, kinh nghiệm của nhóm trẻ giờ đây chuyển sang kinh nghiệm của cộng đoàn tu sĩ. Tinh thần của Frassinetti đề xuất cho nhóm trẻ không còn bị giới hạn trong vòng tròn của “bạn bè”, mà là vòng tròn rộng lớn hơn của các mối quan hệ giữa các chị em thuộc cùng một ơn gọi. Đối với Maria Domenica, tình bạn mang màu sắc của “tình mẫu tử thiêng liêng” giữa các nữ tu và các thanh thiếu nữ.

3. Sáng kiến đầy hữu hiệu của người nữ

Tại tiệc cưới Ca-na, Đức Maria, Mẹ Chúa Giê-su, với sự chú ý đến những gì đang xảy ra xung quanh mình và trực giác nữ tính của mình, đã thấy trước sự cố thiếu rượu của cô dâu chú rể và của khách mời. Đức Maria đề nghị Chúa Giê-su can thiệp và Mẹ làm như vậy một cách kín đáo, dứt khoát và đồng thời cũng hiệu quả:

Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Theo thánh sử Gio-an, với lời nói của mình, Đức Maria nhận được dấu lạ đầu tiên từ Chúa Giê-su.

Sự tinh tế của Đức Maria tại Cana còn đáng ngạc nhiên hơn khi người ta xét đến thân phận thấp kém của phụ nữ trong xã hội Do Thái. Thật vậy, tại Ca-na, Chúa Giê-su không chỉ nhìn nhận phẩm giá và vai trò của phụ nữ và “thiên tài nữ tính” của họ, nhưng, khi chấp nhận sự can thiệp của người mẹ, Người ban cho họ khả năng tham gia vào công trình cứu độ của Người. Từ ngữ “này Bà” mà Chúa Giê-su dùng để xưng hô với Đức Maria (x. Ga 2,4) không mâu thuẫn với ý định này của Người, vì nó không chứa bất kỳ hàm ý tiêu cực nào và Chúa Giê-su sẽ sử dụng nó một lần nữa, để ám chỉ Mẹ của Người, dưới chân thập giá (x. Ga 19,26).

Tước hiệu “Bà” giới thiệu Đức Maria như là E-và mới, người mẹ trong đức tin của mọi tín hữu. Chính khi Đức Giê-su chấp nhận lời thỉnh cầu của Mẹ Người, là lúc Chúa cho thấy Người đáp lại sự mong đợi của con người một cách dồi dào, cũng cho thấy sức mạnh lớn lao mà tình mẫu tử đòi hỏi.

Ngang qua cách nhấn mạnh sáng kiến của Đức Maria trong dấu lạ đầu tiên và việc nhắc lại sự hiện diện của Mẹ trên đồi Can-vê, Thánh Gio-an giúp chúng ta hiểu rằng sự cộng tác của Đức Maria bao trùm tất cả công trình của Đức Ki-tô. Lời thỉnh cầu của Đức Trinh Nữ nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Tại Ca-na, chính nước trong các chum, vốn được dùng để thanh tẩy người Do Thái và để thực hiện các quy định luật pháp, nay biến thành rượu mới của tiệc cưới, một biểu tượng của sự kết hợp dứt khoát giữa Thiên Chúa và nhân loại. Đức Maria tại Cana thể hiện trực giác sáng tạo, sự quan tâm chăm sóc con người và sự tin tưởng thanh thản vào Con của Mẹ.

Hãy cùng đến với bối cảnh của Mornese. Cha Bosco đến thị trấn nhỏ cùng với các bạn trẻ của mình vào tháng 10 năm 1864, do Cha Pestarino; và rời khỏi đó với lời hứa có thể mở một trường nội trú dành cho trẻ nam của Mornese. Ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên với Cha Bosco, Maria Mazzarello đã trực cảm được sự thánh thiện của vị linh mục thành Torino và vì bị thu hút bởi linh đạo của ngài, Thánh nữ đã thốt lên: “Cha Bosco là một vị thánh, ngài thật là một vị thánh: và tôi cảm nhận được điều đó!”. 583 Sau này, khi được bầu làm Bề trên của Hội dòng mới vào năm 1872, nữ tu Maria Mazzarello đã không ngại nói với các chị em của mình một cách gần như nghịch lý: “Chúng ta đang sống dưới sự hiện diện của Thiên Chúa và của Cha Bosco!”. 584 Mặt khác, một hôm chính Cha Bosco tâm sự với Cha Cagliero: “Hội dòng của họ giống như Hội dòng của chúng ta: cùng một mục đích và cùng một phương pháp”. 585 Thật vậy, Cha Bosco, ngay từ lần đầu tiên đến thăm xưởng may nhỏ của các Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, đã rất ấn tượng về hoạt động họ.

Cách diễn đạt của Maria Mazzarello: “Cha Bosco là một vị thánh và tôi cảm nhận được điều đó” tạo thành một trực giác rất sâu sắc, được phát sinh từ sâu thẳm con người Thánh nữ. Đó là một trực giác mạnh, không thể diễn tả được đã thúc đẩy và khuyến khích Thánh nữ tiếp tục nỗ lực và quyết tâm hơn nữa trong những gì Thánh nữ đã đảm nhận để giáo dục thanh thiếu nữ. Với lòng can đảm và sự sẵn sàng, Cha Bosco trong tư cách là một trung gian, ngài đảm bảo rằng đây là thánh ý Thiên Chúa. Đây chính là tinh thần đã thúc đẩy họ: làm điều tốt nhất có thể cho những người trẻ nghèo qua việc giáo dục toàn diện. Maria Mazzarello, giống như Đức Maria ở Cana, biểu lộ một trí thông minh tinh tế và sống động, tự do và sâu sắc, có khả năng cho phép mình bị chất vấn - “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?” (Ga 2,4) - để có thể chia sẻ con đường mà Chúa Quan phòng bày tỏ cho Thánh nữ. Hơn nữa, với tư cách là một FMA, Maria Mazzarello đối diện với một số phản đối trước những gì đã được thiết lập, Thánh nữ chỉ trả lời: “Nếu Cha Bosco muốn theo cách này, chúng ta phải làm theo cách này”. 586

Tại Ca-na, Đức Maria đã can thiệp để bữa tiệc không mất đi niềm vui. Phong cách “Sa-lê-diêng” của Cha Bosco và Maria Mazzarello thể hiện qua niềm vui, luôn đưa đến một sự lạc quan lành mạnh và xây dựng, bất chấp những khó khăn của cuộc sống. Ân sủng của Tin Mừng và niềm vui luôn đi đôi với nhau. Vì vậy, Thánh Phao-lô nhắc nhở: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến!” (Pl 4,4-5).

4. Trực giác những nhu cầu và quan tâm đến mọi người

Trong bài thương khó theo thánh Mat-thêu, xuất hiện một chi tiết đặc trưng của thánh sử: “Lúc tổng trấn [Phi-la-tô] đang ngồi xử án, thì bà vợ sai người đến nói với ông: ‘Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy’…” (Mt 27,19). Vợ của Phi-la-tô là người duy nhất bênh vực Chúa Giê-su trong hoàn cảnh này.

Phi-la-tô, quan tổng trấn La Mã của Giu-da, trong tư cách là đại diện của hoàng đế, là nhân vật có thẩm quyền cao nhất của tỉnh La Mã thời đó. Trưởng hội đường, cơ quan lập pháp và tài phán lớn nhất của Do Thái, đã lên án Chúa Giê-su bằng cách buộc Người tội phạm thượng. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng thuộc về Tổng trấn, người có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ quyết định đó. Trước toàn thể khán giả, vợ của Phi-la-tô cử sứ giả đến thả người công chính đó. Trong Cựu Ước, người “công chính” được nói đến, theo thuật ngữ chuyên môn của thủ tục pháp lý, là người được Thiên Chúa thương xót; do đó, người “công chính” là người tuân giữ Lề Luật, khác với kẻ gian ác là những kẻ không tuân hành luật. Đấng Mê-si-a là người công chính vì mọi sự nơi Người đều phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Trong Tân Ước, “người công chính” là người nghe lời Chúa Giê-su và đem ra thực hành. Tác giả sách thánh muốn đưa ra một giá trị kép cho thuật ngữ được sử dụng bởi người phụ nữ La Mã: Chúa Giê-su vô tội và công chính cả về quan điểm lập pháp lẫn nhân đức và xem Người như là Đấng Thiên Sai.

Chúng ta không biết gì về người phụ nữ này, thậm chí không biết tên của cô ấy. 587 Có lẽ cô đã nghe nói về Chúa Giê-su, vì danh tiếng như một bậc Thầy. Cô đã cố gắng xin tha cho Chúa, cô là người ngoại đạo, cô đã mơ thấy Chúa và cảm nhận rằng Chúa không phải là tội phạm. Trong Kinh Thánh, giấc mơ là một trong những hình thức giao tiếp đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người. Trong giấc mơ, Thiên Chúa bày tỏ sự thật bằng cách vén bức màn ngăn cách để con người có thể tiếp cận với thực tại đích thực. Trái lại, các thượng tế và kỳ lão hoàn toàn “mù quáng”, ngoan cố không nhìn nhận Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a đã được chờ đợi từ lâu. Do đó, họ đã để cho Người phải chết, họ cố gắng thuyết phục đám đông giết Đức Giê-su và yêu cầu phóng thích kẻ tội phạm Ba-ra-ba.

Những sự tương phản được liệt kê cho đến đây có thể là đủ, nhưng Mát-thêu lại thêm một điều nữa, có lẽ là điều mạnh nhất: người phụ nữ ngoại giáo thừa nhận Chúa Giê-su vô tội. Tiên vàn, Tin Mừng Mát-thêu viết cho những người hầu hết có nguồn gốc Do Thái. Thực vậy, một mặt, người Do Thái, đứng đầu là các thầy tư tế và trưởng lão, là những người biết về đức tin và nghiêm nhặt trong Luật pháp của họ; mặt khác, vợ của Thống đốc La Mã, là một phụ nữ ngoại giáo, tuy nhiên, bà là người đã vượt ra khỏi những định kiến và đi đến Sự thật. Ở trung tâm, giữa hai cực hoàn toàn đối lập này, là Phi-la-tô, một người yếu đuối, thiếu quyết đoán và sợ hãi, đang bị “chia rẽ” giữa niềm tin của ông ta, những gì vợ ông ta sai người nói với ông ta và những áp lực của người Do Thái sẽ gây náo động. Người phụ nữ yêu chồng và có thể cảnh báo chồng về bất kỳ sai sót nào trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý. Nhưng cuối cùng, sức ép của người dân đã chiến thắng. Phi-la-tô không nghe lời vợ. Một thẩm phán phải là người bảo đảm công lý, lại hành xử bất công và kết án một người vô tội, bất chấp lẽ thường và lời cảnh báo của vợ.

“Phán đoán siêu nhiên” 588 (buon senso soprannaturale), sự phân định rõ ràng là những đặc điểm riêng của Maria Mazzarello. Các chứng từ trong tiến trình phong thánh đều thống nhất: Mẹ có ơn biện phân và đồng hành với nhiều ơn gọi. Mẹ Mazzarello cũng rất nhạy bén trong sự hiểu biết và phân biệt con người và tình huống. Mẹ đã quan tâm rất tốt đến mọi thứ.

Quan tâm không chỉ ở cấp độ tinh thần mà còn trong thực tế. Mẹ nhạy bén với nhu cầu và cách hành xử, đồng thời làm tốt nhất bao có thể trong mọi trường hợp. Chúng tôi nhớ lại những gì Mẹ làm trong một chuyến đi dạo vào tháng 5, đến Thánh đường Rocchetta ở Lerma, Mẹ đã nêu gương về lòng bác ái đối với một bé gái năm hoặc sáu tuổi.

“Khi nhìn thấy em bé mặc rách rưới và đau khổ, Mẹ lập tức dành cho cô bé sự quan tâm của mình. Mẹ không biết làm cách nào tốt nhất để che chở cho em, nên đã hỏi các nữ tu: “Ai trong các con có chiếc váy đẹp cho Mẹ xin”. Ngay khi có, Mẹ ngồi xuống bãi cỏ, lấy kéo, cắt một chiếc váy nhỏ, Mẹ tự mình may, trong lúc may Mẹ hỏi cô bé về giáo lý và dạy em đọc kinh. Chiếc váy nhỏ may xong, cô bé mặc vào, Mẹ lấy phần thừa bỏ vào một cái túi nhỏ đưa cho cô bé và bảo: ‘Con cầm cái này về đưa cho mẹ, nếu áo con rách, mẹ con sẽ lấy vải này vá áo lại’. Sau đó, khi biết rằng cô bé có em trai, Mẹ bỏ thêm hai hoặc ba ổ bánh mì và một ít pho mát và nói với cô bé: ‘Bây giờ hãy về nhà và con sẽ ăn cái này với họ’. Buổi tối, về tới nhà, khi kể lại cuộc đi dạo với cả cộng đoàn, Mẹ nói: ‘Hôm nay trên đường chúng ta gặp một em bé tội nghiệp, rách rưới đáng thương’… Mẹ thực sự động lòng trắc ẩn. Mẹ rất vui khi thấy các nữ tu chạy đến vỗ về cô bé với tình yêu thương đầy lòng bác ái…”. 589

Cái nhìn nữ tính của Maria Domenica Mazzarello đã được thao luyện để biết nhạy bén với mọi tình huống, mọi cuộc gặp gỡ cần sự giúp đỡ, lắng nghe, quan tâm cách âm thầm. Trong câu chuyện kể trên, cô bé không hề ngỏ lời, không đòi hỏi hay cầu cứu bất cứ điều gì. Như Chúa Giê-su trong cuộc khổ nạn, trước mặt Phi-la-tô. Vợ của Phi-la-tô là người duy nhất đứng về phía Chúa Giê-su khi ngài bị người ta kết án một cách bất công. Người phụ nữ ngoại giáo này có một tầm nhìn rộng hơn và sâu hơn về tình hình, bà có một trực giác bí ẩn trở thành niềm xác tín, bà có sự thẳng thắn để truyền đạt nó và can đảm đứng về phía sự thật và công lý bằng cách đi ngược dòng; bà có sự quan tâm để nhìn thấy nhu cầu và có trái tim nhân hậu luôn thúc đẩy để giúp đỡ người khác. Tất cả những điều này là một phần của “thiên tài nữ tính”, nó cũng rất giống như cuộc đời của Maria Domenica Mazzarello với những đặc điểm nổi bật cách đặc biệt: ánh nhìn chăm chú, trực giác về nhu cầu và quan tâm chăm sóc người khác; sự gần gũi kịp thời trong những trường hợp cần một lời nói hay, một lời khuyên, một lời nhắc nhở về những giá trị cao đẹp. Phán đoán đúng, trực giác sâu sắc và khả năng biện phân hoạt động nơi Maria Mazzarello, không chỉ ở cấp độ “tinh thần” mà còn chuyển thành cách cụ thể của cuộc sống hàng ngày.


Chú thích

581 Maccono I 33.

582 Đc Frassinetti Giuseppe, L e amicizie spirituali, imitazione di S. Teresa di Gesù, trong Opere ascetiche II 76-80.

583 Hồi sử I 150.

584 Maccono II 134.

585 Cagliero Giovanni, [Memoria storica su Maria Domenica Mazzarello] 1918, ms. aut., trong AGFMA 020 04-1-01.

586 Hồi sử III 368.

587 Tình tiết này về sự can thiệp của vợ Phi-la-tô cũng xuất hiện trong văn bản ngụy thư của Hành động của Phi-la-tô. Một số truyền thống cho biết tên cô ấy: Claudia Valeria Procula. Nhà thờ Chính thống giáo Hy Lạp tôn vinh bà là Thánh Procula, trong khi Nhà thờ Chính thống Ê-ti-ô-pi-a tôn vinh bà cùng với Phi-la-tô, đề cập đến một truyền thống mà cuối cùng, Phi-la-tô cũng đã chuyển sang Ki-tô giáo. ĐC Di Mauro Virginia, Chúa Giêsu và những người phụ nữ ngoại giáo: vợ của Phi-la-tô (Mt 27,11-26), trong https://www.gliscritti.it/blog/entry/2078, (consultato 18.03.2022).

588 Testimonianza di Giovanni Cagliero, trong Summarium 421; Đc Lemoyne, Suor Maria Mazzarello, 101; Anschau Petri, La santità di Maria Domenica Mazzarello 219-225.

589 Maccono I 407-408.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026