FMA Logo

24. Một cộng đoàn mở ra theo thời gian và không gian



Piera Cavaglià - Eliane Anschau Petri

Bất chấp sự mỏng dòn và lao nhọc, cộng đoàn tiên khởi của FMA ở Mornese trở nên như một ngôi nhà và trường học hiệp thông,624 cũng như trường học tình yêu625 nơi các chị em cùng trưởng thành, cùng đào luyện và cùng nhau hướng tình yêu về với Thiên Chúa và với người khác. Các chị em liên tục cảm nghiệm được tình yêu thương xót luôn đổi mới họ từ bên trong để làm cho họ ngày càng phù hợp hơn với sứ mệnh giáo dục.

Sự hiệp thông được sống như một sự tham dự vào sự hiệp thông ba ngôi (koinonia), được cụ thể hóa qua các mối tương quan đầy tình thương mến hỗ tương, tình huynh đệ, tình bạn, dám “chịu trách nhiệm” về những giới hạn của người khác, trao đổi cho nhau các ân ban, tinh thần đồng trách nhiệm và đời sống thuộc về. Như thế, các chị em mới có thể sống một hành trình nên thánh hoàn toàn tập trung vào việc “trở nên người thân cận”, vào việc “sống vì người khác” với ý thức rằng mình đến với Thiên Chúa không chỉ qua người khác, mà còn “cùng nhau” hướng đến người khác, “cùng với” người khác. Vì vậy, chị em luôn sẵn sàng chấp nhận rủi ro, nhưng trên hết vẫn là vui vì được gặp gỡ người khác, được chăm sóc các chị em và các bạn trẻ và cùng nhau tiến bước trên con đường trưởng thành trong tình yêu một cách vui vẻ và có trách nhiệm.

Có như thế, lời của Thánh Vịnh mới ứng nghiệm: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau […].Nơi đây ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời” (Tv133,1-3). Khi nói về tương lai của Giáo hội, Karl Rahner đã nhấn mạnh rằng linh đạo của ngày mai phải là một “kinh nghiệm tập thể về Thần Khí”, một “sự hiệp thông huynh đệ thiêng liêng”, nhờ đó mỗi người truyền đạt kinh nghiệm về Thần Khí cho người khác và cùng nhau tiến bước trên con đường nên thánh.626

Ngày nay, Giáo hội sống theo con đường hiệp hành bằng cách để cho mình được thúc đẩy bởi cùng động lực hiệp thông và tham gia này.

1. Cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi  và cộng đoàn FMA tiên khởi

Có một mối tương quan chặt chẽ, thực sự là một sự hòa hợp căn bản, một sự tiếp nối giữa cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi (tại Giê-ru-sa-lem) và cộng đoàn tiên khởi của FMA (tại Mornese). Tiên khởi có nghĩa là “biểu mẫu” của mọi cộng đoàn khác trong Giáo hội, do đó, là mô hình quan trọng của các cộng đoàn. Vì thế, các yếu tố hòa hợp giữa hai cộng đoàn này có thể dễ dàng được làm nổi bật theo các chiều hướng cơ bản của kinh nghiệm về Thánh Thần.

Tại Giê-ru-sa-lem họ là 11 tông đồ. Trước Lễ Ngũ Tuần, họ đầy sợ hãi, sau đó họ nói một cách tự tin và mạnh dạn. Được tràn đầy sức mạnh của Thánh Thần, họ trở nên những chứng nhân của Chúa Giê-su cho đến tận cùng trái đất.

Cộng đoàn, được quy tụ quanh Đức Maria, Mẹ Chúa Giê-su, được đặc trưng bởi ba điều cần trung thành cách kiên trì: với Lời Chúa, với tình hiệp thông huynh đệ, với việc bẻ bánh.

Các tín hữu hợp nhất trong Thánh Thần: “Họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến” (Cv 2,46-47). Ngay cả khi bị bách hại, họ cũng không ngừng chúc tụng Chúa. Họ nghèo, thất học và nhút nhát, nhưng Đấng Phục Sinh đã củng cố họ bằng những điềm thiêng dấu lạ và làm cho số lượng thêm đông (x.Cv 16,5).

Cộng đoàn ra đời ở Pa-lét-tin, ở Giê-ru-sa-lem, vài năm sau, Giáo hội Đức Ki-tô đã có mặt ở phần lớn các quốc gia thuộc Đế chế La Mã.

Tại Mornese các FMA tiên khởi là 11. Những người nữ khiêm tốn và nghèo khó này đi theo Chúa Giê-su, Đấng coi họ là của riêng mình và khơi dậy trong họ tình yêu dành cho những người nghèo và những người cần được chăm sóc và giáo dục. Các nữ tu siêng năng và nhất trí cầu nguyện, dễ dạy với Chúa Thánh Thần, xác tín về sự hiện diện của Đức Maria, Đấng hướng dẫn họ. Mỗi ngày các FMA tham dự Thánh Thể, họ hiệp nhất với nhau như chị em với niềm vui và tâm hồn đơn sơ, họ để mọi sự làm của chung. Toàn thể ngôi nhà Mornese vang lên lời ca ngợi Thiên Chúa và ngay cả khi trải qua những xung đột, đau đớn và sự chết, họ vẫn luôn kiên trì mạnh mẽ trong niềm hy vọng. Họ mù chữ, nhưng khiêm nhường tìm kiếm sự khôn ngoan và hăng hái mang Chúa Giê-su đến tận cùng trái đất.

Cộng đoàn ra đời tại nước Ý, nơi vùng thôn quê Mornese, vài năm sau đó, Hội dòng đã có mặt tại Pháp, Uruguay và Argentina. Được thúc đẩy bởi lòng nhiệt thành truyền giáo mãnh liệt, Hội dòng đã âm thầm truyền bá Tin Mừng khắp thế giới mà không cần đến những điều phi thường hay phép lạ.

Chúng ta có thể nghi ngờ nhiều điều, nhưng chúng ta chắc chắn rằng Thánh Thần đang hoạt động qua nhiều trung gian, như trong việc thành lập và mở rộng Giáo hội, cũng như trong việc thành lập và mở rộng Hội dòng. Chúng ta nhận ra rằng thực sự Đức Ki-tô “đã cho họ thấy mình còn sống với nhiều bằng chứng” (Cv 1,3).

Khi chiêm ngưỡng các chị em tiên khởi đầy khiêm tốn của chúng ta, chúng ta khám phá ra nơi đó sự hiện diện thường hằng của Đức Ki-tô, Chúa của lịch sử. Nhờ sức mạnh của Thần Khí Chúa, cộng đoàn được xây dựng, thăng tiến trong đức tin và lớn lên trong việc lắng nghe và loan báo Lời Chúa Giê-su cho đến tận cùng trái đất.

Vì thế, có một sự hòa hợp rõ ràng giữa hai cộng đoàn đã lấy sức sống từ cùng một nguồn. Ta không bao giờ có thể làm dịu cơn khát của mình tại nguồn này! Lucien Cerfaux ghi nhận: “Cuộc sống của các Ki-tô hữu tiên khởi của Giê-ru-sa-lem là cuộc sống luôn được bắt chước, đôi khi từ gần, đôi khi từ xa: bức tranh của người thầy mà các nghệ sĩ, quỳ gối chiêm ngưỡng và sao chép một cách vụng về trong các viện bảo tàng”.627

2. Một cộng đoàn “đi ra”

Mornese là một cộng đoàn đã tiếp nhận và hội nhập sứ mệnh truyền giáo của Chúa Giê-su: “Hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16-15); “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại” (Ga15,16).

Thật vậy, theo học nơi trường của Chúa Thánh Thần có nghĩa là được dẫn vào chiều kích của sự thẳm sâu và của nội tại cuộc sống, đồng thời, vào chiều kích truyền giáo mở rộng và phổ quát.

Ngay cả trước khi thành lập Hội dòng FMA, Cha Bosco đã quan niệm rằng Hội dòng mở ra, đi tới những chân trời rộng lớn. Một trong các lá thư gửi cho cháu trai Cha Giuseppe vào tháng 2 năm 1871, Cha Pestarino đã viết: “Cậu đang ở Torino và quyết định mở các trường nội trú nhiều hơn nữa. Cha Bosco có những suy nghĩ rất rộng và ngài thấy vẫn cần phải nhân thêm nhiều bao nhiêu nữa cậu cũng đã biết [...]”.628

Là người thực hiện một kế hoạch đoàn sủng vượt lên trên kế hoạch của từng cá nhân, cộng đoàn tiên khởi của FMA không chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, mà thấy mình được đưa vào một động lực, hướng Hội dòng vượt ra ngoài ranh giới hạn của nông trại, giáo xứ, thị trấn. Từng chút một, cuộc sống của Hội dòng mở ra khắp hoàn vũ. Những “cô thôn nữ” ấy hình như không cam chịu sống ở nơi chân trời nhỏ bé629, họ thấy mình đươc cuốn hút vào “giấc mơ” của Cha Bosco thấm nhuần tính toàn cầu theo logic cứu chuộc của Chúa Giê-su: “Cha phải đảm bảo rằng máu của Chúa Giê-su không đổ ra vô ích, cho cả thanh niên và thiếu nữ”.630

Là người có tầm nhìn bao la, Cha Bosco không dễ bị gò bó trong những không gian nhỏ hẹp và ngài không ngại khẳng định: “Thành phố càng đông dân cư càng cho chúng ta có nhiều việc làm hơn”.631 Làm sao chúng ta có thể không nghĩ đến kinh nghiệm của các Tông đồ, những người được Thánh Thần sinh động, không sợ khó khăn trong việc loan báo Nước Thiên Chúa: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ, anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Viễn tượng về việc đi ra, về luồng khí thở rộng, sẵn sàng đón nhận tương lai của Thiên Chúa, đều có sẵn trong đoàn sủng Sa-lê-diêng. Hiến luật của Hội dòng FMA luôn nhắm tới tầm nhìn này: “Hội dòng cùng với Giáo hội tham gia vào sứ mệnh cứu độ của Đức Ki-tô” (HL 1). Lĩnh vực hoạt động của Hội dòng rộng lớn như công trình cứu chuộc của Đức Ki-tô. Tinh thần của Chúa là “tinh thần hoàn vũ”.632

Có một trang trong các nguồn tài liệu của chúng ta, tiếc là ít được biết đến, trong đó chính Cha Bosco vào năm 1880 đã tự tay phê chuẩn việc tái bầu chọn Mẹ Mazzarello làm Bề Trên Tổng Quyền với những lời này: “Cha cầu xin Chúa đổ xuống trên tất cả mọi người tinh thần bác ái và nhiệt thành, để Hội dòng khiêm tốn này của chúng ta ngày càng gia tăng về số lượng, mở rộng ra các quốc gia khác và sau đó là các quốc gia xa xôi hơn trên trái đất, nơi đó các nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ có thể thu phục được nhiều linh hồn về cho Chúa, có thể tự cứu mình; và một ngày nào đó họ có thể gặp gỡ tất cả những linh hồn mà họ cứu rỗi trong Nước Trời để muôn đời ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa”.633

Hình ảnh của Hội dòng được Cha Bosco cưu mang chính là: một cộng đoàn đi ra theo thời gian và không gian, được bén rễ trong tình yêu của một người cha muốn cứu rỗi con cái mình, và vì thế, ngài mời gọi cộng đoàn đi theo Chúa Giê-su trên các biên cương truyền giáo, đi theo sự thúc đẩy của Thần Khí.

Mornese cũng là một cộng đoàn mở ra trong không gian. Các lá thư để lại từ Mornese và từ Nizza là những chứng từ khiêm tốn, nhưng chắc chắn về động lực không thể kìm nén của một tình yêu luôn ngự trị trong nhà. Đây là một cộng đoàn không thu mình lại, nhưng được bao phủ bởi nhiệt huyết cứu độ của Đức Giê-su Ki-tô. Mẹ Mazzarello đã viết cho Cha Cagliero: “Bây giờ, con sẽ cho cha biết tin của cộng đoàn nhé, con viết cho cha tên của những người mong ước được sớm đến Mỹ châu. Con thì dĩ nhiên rồi, cả mẹ Phó, mẹ Quản lý, chị Mina, chị Maria Belletti, chị Giuseppina, chị Giovanna, chị Emilia (thực đấy), chị... Con sẽ chẳng thể kết thúc nếu kể ra hết các tên của những chị ao ước được đến đó” (Thư số 5,9).

Một vài năm sau khi thành lập, cộng đoàn đã hít thở sâu sắc tinh thần Giáo hội vốn hướng dẫn cộng đoàn ra đi làm chứng cho Chúa Giê-su ở mọi miền. Một niềm xác tín phổ biến bắt nguồn từ thời đầu của cộng đoàn chính là: “Một người nữ bước vào Dòng với ý muốn chỉ cứu rỗi linh hồn của mình, thì không phù hợp để chu toàn các bổn phận của các nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ”.634

Các không gian của cộng đoàn sau đó trở nên rộng hơn bao giờ hết. Trái đất là quê hương của những chị em trẻ chỉ biết yêu mến một mình Thiên Chúa, Đấng đã đến thế gian để cứu con cái mình bằng cách hy sinh mạng sống. Đây không phải là một giấc mơ, cũng không phải là một điều không tưởng. Họ thật sự lìa bỏ tất cả, người thân trong gia đình, đất nước, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục tập quán. Khi mở ra với các kế hoạch truyền giáo của Cha Bosco, những điều không được ưa chuộng, nguy hiểm, rủi ro đủ loại luôn là những thách đố thực sự. Và khi viết, họ thuật lại giống như các tông đồ và môn đệ đầu tiên, tất cả mọi sự Thiên Chúa đã hoàn thành qua họ (x.Cv 14,27).635 Thiên Chúa của cộng đoàn tiên khởi là Thiên Chúa luôn làm việc và làm nên những điều kỳ diệu trong cuộc sống của những ai khiêm tốn và không gây trở ngại cho hành động phổ quát của Người. Những người khiêm tốn này luôn qui hướng về Người, Đấng mà họ yêu thương và không muốn đánh mất dù chỉ một đứa con (x.Mt 18,14). Chúng ta hãy học cách có một tấm lòng “rộng mở và quảng đại”, quan tâm đến những người bé mọn nhất, ngay cả khi điều này đưa chúng ta vào những con đường đầy chông gai.

3. Một cộng đoàn nhạy bén với tính liên văn hóa

Vào thời của Mẹ Mazzarello, người ta không nói đến chủ nghĩa đa văn hóa và liên văn hóa, nhưng ngay từ đầu, Mornese đã được đặc trưng là một môi trường sẵn sàng tiếp đón mọi người đến từ các bối cảnh khác nhau, với những câu chuyện cuộc đời và sự chuẩn bị chuyên môn khác nhau. Ngay khi Hội dòng FMA được thành lập với mục đích giáo dục rõ ràng, thì Cha Bosco bắt đầu gửi các giáo viên giáo dân được đào tạo đến nhà Mornese để giúp các nữ tu đáp ứng sứ mệnh một cách thành thạo. Một trong số đó là thiếu nữ Emilia Mosca, một giáo viên dạy tiếng Pháp, một người khác là Angela Jandet. Cả hai đều là những giáo dân không đến từ những ngôi làng nhỏ mà đến từ thành phố Torino, có trình độ văn hóa cao. Hơn nữa, ngay từ đầu, Mornese đã là một môi trường mở ra cho những chân trời liên văn hóa mới, cho sứ mệnh truyền giáo. Vào năm 1879, từ nhà Nizza Monferrato, Mẹ Mazzarello đã viết thư cho những người truyền giáo đã vượt đại dương vài năm trước đó và đã đến nước Uruguay, sống tại Villa Colón. Đó là một lá thư mang tính cộng đoàn, trong đó Mẹ đưa tin tức, trong số những thứ được kể, Mẹ kể về cộng đoàn mới chuyển từ Mornese đến Nizza, đây không chỉ là sự chuyển đổi về địa lý mà còn là sự hội nhập văn hóa, nhằm mở rộng lãnh địa hoạt động của Hội dòng: sau đó chuyển đến Pháp, đến Mỹ rồi vươn ra năm châu. Trong phần nội dung lá thư, bằng sự trìu mến tế nhị và tự tin, Mẹ đặt câu hỏi với nữ tu còn rất trẻ Angela Denegri: “Con đã biết tiếng Pháp chưa? Khi học các ngôn ngữ của thế giới này, cũng hãy học ngôn ngữ của linh hồn với Chúa” (Thư số 22,12).

Niềm đam mê truyền giáo thúc đẩy các FMA học ngôn ngữ mới để có thể truyền đạt Tin Mừng cách tốt hơn và mở ra cho những bối cảnh văn hóa mới. Niềm đam mê truyền giáo của thánh Phao-lô dường như vang vọng trong tất cả những điều này: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng […]. Thật vậy, mặc dù được tự do với tất cả, nhưng tôi đã biến mình thành đầy tớ của mọi người để thu phục được nhiều người hơn: Tôi đã biến mình thành người Do Thái cho người Do Thái, để thu phục người Do Thái” (1Cr 9,16.19-20).

Sự cởi mở và uyển chuyển trước những tình huống mới và đối tượng mới được nhận thấy rõ nơi Mẹ Mazzarello khi Mẹ tiếp nhận Emilia Mosca, một cô gái xuất thân từ một gia đình giàu có và cô cảm thấy bối rối trước sự giản dị và nghèo khó của Mornese. Maria Mazzarello thực sự là một người mẹ đích thực, một người nữ luôn quan tâm, tôn trọng nhân vị, lịch sử, nhu cầu của cô. Ban đầu Mẹ cung cấp cho cô những đồ ăn thức uống khác nhau để cô có thể chịu được sự mệt mỏi của sự thay đổi và của môi trường mới. Mẹ đã khiến cô suy ngẫm về cách ăn mặc quá tinh tế của mình, nhưng Mẹ không áp đặt vào thói quen của con người cô mà tôn trọng nhịp hội nhập và thay đổi của cô. Mẹ biết trân trọng những nguồn lực tích cực của nhà giáo trẻ và hiểu mình có thể đưa cô đạt đến đâu trên con đường nên thánh:

“Mẹ Maria Mazzarello đã từng đọc được cõi lòng và - mặc dù vô thức, đã nhận ra nơi sâu thẳm cõi lòng những hiếu thắng siêu nhiên, Mẹ ngay lập tức cảm nhận được chiều sâu của bản chất hăng hái đó, đo lường sức mạnh của nó để hướng nó lên tầm cao của sự hoàn hảo. Sau vài ngày, Mẹ hỏi đùa cô ấy rằng liệu cô ấy có thể ăn mặc giản dị hơn không... “dù sao đi nữa, ở đây, ai nhìn thấy cô?”. Từ kinh nghiệm của bản thân, vị phó bề trên biết một thanh thiếu nữ cần bao nhiêu năng lượng để vượt qua khuynh hướng tự nhiên hầu gây ấn tượng tốt cho người đó; và vì Mẹ thấy Emilia vâng lời, Mẹ dễ dàng khiến cô ấy suy nghĩ về sự phù phiếm của lợi danh, về lợi ích của việc đặt niềm tin, lòng tốt, lòng biết ơn Chúa vì những món quà của Người trong cuộc sống”.636

Thực vậy, cộng đoàn tiên khởi do Mẹ Mazzarello lãnh đạo cho thấy nét đặc trưng về sự cởi mở và sự tiếp đón đầy tôn trọng và kiên nhẫn đối với mọi người trong sự đa dạng văn hóa của họ. Ví dụ như trường hợp của thiếu nữ Maria người Phi châu, được gọi là “la Mora”, người đã đến Nizza Monferrato thông qua Giám mục truyền giáo Daniel Comboni. “Thỉnh thoảng, ngài đồng hành với một nhóm nhỏ đến Châu Âu, để giao phó chúng cho các gia đình Công giáo và các Dòng tu, để chúng được tiếp nhận trong tình bác ái và để họ lo suy nghĩ về mọi mặt, về tương lai trần thế và đời sống vĩnh cửu của chúng”. Người trẻ này được tiếp đón với sự cảm thông, bác ái và một sự tò mò nhất định. Sự nhạy cảm, lối biểu hiện, sự tôn trọng và sự quan tâm của Mẹ Mazzarello đối với thanh thiếu nữ và cộng đoàn là đặc biệt quan trọng: “Đối với một thiếu nữ đầy tự ti - người sẽ sớm được gọi là “thiếu nữ tóc nâu” - Mẹ khuyên không nên hỏi cô ấy những câu hỏi khó nghe, mà hãy sử dụng một cử chỉ lịch sự với lòng bác ái và cầu nguyện để Chúa ban cho cô ấy ơn trở thành một Ki-tô hữu”.637 Đây là một thiếu nữ mang trong mình quá khứ đau khổ, có lẽ đã rơi vào mạng lưới buôn người, bị làm nô lệ, bị bán cho các ông chủ. Đây là một câu chuyện đau đớn, không dễ hiểu và đáng nhận được sự trân trọng. Cuốn Hồi sử mô tả cô ấy là người “có tính khí nóng nảy, đầy bản năng và không tự kiểm soát được, cô ấy trở nên nguy hiểm nếu bị mâu thuẫn hoặc nếu cảm giác ghen tuông của cô ấy bị xúc phạm”.638 Mẹ Mazzarello và cộng đoàn bao quanh cô cách tinh tế và rất kiên nhẫn. Sau một hành trình dài, cô lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Nhưng thiếu nữ này không thể thích nghi với cuộc sống chung với các FMA. “Vì mọi nỗ lực về lòng tốt và sự kiên nhẫn đều tỏ ra vô ích do bản tính hiếu chiến và bất khuất”,639 nên Mẹ đã tìm được một chỗ ở mới trong Dòng “Người mục tử nhân lành” ở Torino. Thật không may, cô ấy cũng không phù hợp ở đây và bỏ nhà đi. Lời tường thuật của cuốn Hồi sử kết luận với những câu hỏi đến từ cộng đoàn: “Bây giờ cô ấy ra sao? Đức Maria phù hộ các giáo hữu sẽ bảo vệ và giúp cô ấy cứu linh hồn tội nghiệp của mình chứ?”640

Tính liên văn hóa của cộng đoàn Mornese tiên khởi nói với chúng ta về một hành trình mở ra, cho đi và sẵn sàng tiếp nhận, cho dù gặp nhiều vất vả.

Sự mở ra đối với các nền văn hóa khác nhau mà Giáo hội dần dần nhận ra trong lịch sử, là một phần trong căn tính truyền giáo của Giáo hội, vốn hướng dẫn Giáo hội mở rộng tầm nhìn của mình để loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới bằng niềm vui.

4. Một cộng đoàn được đánh dấu bởi sự mỏng dòn

Khi Phao-lô khẩn thiết cầu xin Thiên Chúa cất bỏ “cái dằm xóc vào thịt” khiến ông đau khổ, Thiên Chúa đã đáp lời ông: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”(2Cr 12,9). Để thanh thản làm lành với sự yếu đuối của mình, Phao-lô chấp nhận sống với nó một cách kiên nhẫn và phó thác. Và thậm chí còn đi xa đến mức nói: “Tôi rất vui lòng tự hào về sự yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở trong tôi [...] vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,9-10).

Như trường hợp của Phao-lô, cộng đoàn Mornese cũng dần dần học được tầm quan trọng của sự tin tưởng vô hạn vào ơn ban của Thiên Chúa, vốn cũng coi trọng sự yếu đuối của con người. Khẳng định sự thánh thiện của một cộng đoàn không có nghĩa là loại trừ và phủ nhận những giới hạn, xung đột, căng thẳng và yếu đuối của những con người. Mornese là một ví dụ về một cộng đoàn sống giữa cái “đã” và “chưa”; một cộng đoàn được tạo thành từ những nguồn lực và từ những sự mỏng dòn, từ bóng tối và ánh sáng. Không thiếu những sự kiện và câu chuyện đầy đau lòng: các thiếu nữ bướng bỉnh (Emma Ferrero, Maria Belletti, Corinna Arrigotti); những nghi ngờ và không trung thành với ơn gọi (các nữ tu rời khỏi Hội dòng và không thích nghi với cuộc sống nghèo khổ và khắc khổ của Mornese); nhiều tính cách khó bảo, thiếu đào luyện (kiểu kiêu hãnh, nổi loạn, không chịu vâng lời, thiếu bác ái huynh đệ, kiêu ngạo). Ngay cả trong các cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi cũng không thiếu những xung đột và căng thẳng: chẳng hạn những khó khăn do sự chia rẽ trong cộng đoàn Cô-rin-tô (x.1Cr 1,10-13), những người trong cộng đoàn Thê-sa-lô-ni-ca (x.2Tx 3,6), cuộc tranh cãi giữa Phao-lô và Phê-rô (x.Gl 2,1-20), sự bất đồng quan điểm và sự chia rẽ giữa Phao-lô và Ba-na-ba (x.Cv 15,36-41).

Đối mặt với những khó khăn, bấp bênh, mỏng dòn như đánh dấu cuộc sống của cộng đoàn Mornese tiên khởi, Maria Domenica đã giáo dục các nữ tu và các thanh thiếu nữ vượt qua mọi hình thức bi quan hoặc cam chịu. Mẹ sống và đồng hành với mọi người cách kiên nhẫn. Mẹ không bi kịch tính hóa, phóng đại hay chịu đựng những khó khăn và giới hạn một cách thụ động, nhưng chấp nhận và tiếp nhận chúng một cách thực tế bằng đức tin đích thực và trong niềm hy vọng.

Theo quan điểm Tin Mừng, những giới hạn và yếu đuối không được coi là những trở ngại không thể vượt qua, nhưng được hoàn thiện và được hài hòa hóa trên hành trình nên thánh. Từ kinh nghiệm sống của chính mình, Mẹ Mazzarello xác tín về điều này khi viết thư cho các nữ tu: “Những khuyết điểm của chúng ta, nếu ta chiến đấu với thiện chí, thì đó là những thứ giúp ta tiến bước trong sự hoàn thiện, miễn là chúng ta có lòng khiêm nhường thực sự” (Thư số 28,5).

Cộng đoàn có thể trở thành nơi huấn luyện đường nên thánh khi mọi người trong cộng đoàn biết tin tưởng, chấp nhận và tha thứ. Khi các thành viên trong cộng đoàn có một trái tim cảm thông, thì họ sẽ chia sẻ cuộc sống chung đồng thời chia sẻ “nỗi khốn khổ” chung: “Khi nhận thức được sự yếu đuối của chúng ta, chúng ta phải hạ mình trước nhau, có lòng trắc ẩn dành cho nhau.[641] Thiên Chúa tôn vinh sự giới hạn của chúng ta bằng lòng trắc ẩn của Người, chính chúng ta tôn vinh lòng trắc ẩn của Người bằng cách hòa giải với sự giới hạn của chúng ta, học hỏi ngày này qua ngày khác để mang lấy“gánh nặng của nhau” (Gl 6,2).

Ngang qua sự tương tác giữa những người thánh hiến được Thiên Chúa kêu gọi vì một sứ mạng chung, cộng đoàn là nơi ân sủng, là công trình thánh thiêng, là phép lạ đáng cảm tạ bằng sự kinh ngạc. Thật vậy, cộng đoàn là nơi để thực thi đức bác ái một cách cụ thể, một không gian thần học nơi mọi người sống kinh nghiệm về Thiên Chúa đang hiện diện và hành động nơi họ, dầu họ có nhiều yếu đuối và tổn thương. Cộng đoàn có thể trở thành nơi cảm nghiệm quyền năng của Thiên Chúa thể hiện nơi chính sự yếu đuối của con người. Thực vậy, đối với Thánh Phao-lô, sức mạnh của Thiên Chúa tìm thấy thước đo của nó trong thước đo của sự yếu đuối của chúng ta (x.2Cr 4, 7-15).

Ngay cả những người lãnh đạo cộng đoàn cũng không luôn hoàn hảo, họ là những người tội lỗi và được Thiên Chúa thứ tha, khi họ được kêu gọi dẫn dắt anh chị em, sự mong manh của họ không mất đi mà có khi còn lộ rõ ​​hơn. Theo nghĩa này, Mẹ Mazzarello là một thầy dạy cuộc sống. Mẹ không ngại thể hiện mình là một người đang trên hành trình, rất cần được cứu rỗi như tất cả những người khác. Vì lý do này, Mẹ có thể nói những lời an ủi đầy hiệu quả với những ai sa ngã hoặc phạm lỗi: “Này, đừng nản lòng. Con biết Mẹ cũng như thế... Mẹ ngã như thế này; nhưng với một chút can đảm và ơn Chúa, chúng ta hãy tiến tới và chúng ta sẽ nên thánh, rồi con sẽ thấy”.642

Trong các lá thư của Mẹ, người ta thường tìm thấy những lời nài xin cầu nguyện cho Mẹ, Mẹ không giấu giếm rằng Mẹ đang rất cần sự giúp đỡ của Chúa và sự thông cảm của người khác. Chẳng hạn, Mẹ xin Cha Cagliero cầu nguyện cho Mẹ để Mẹ có thể vượt thắng lòng tự ái: “Xin cha cầu nguyện cho con được xứng đáng nhờ biết chết đi cho chính mình và cho tính tự ái của mình. Con có quá nhiều, quá nhiều tật xấu, khiến mỗi bước đi là mỗi vấp té như một tên say rượu” (Thư số 9,9). Hình ảnh hài hước trên diễn tả khả năng nhìn nhận và chấp nhận một cách thanh thản những giới hạn của bản thân, đồng thời là sự chiến đấu không ngừng trên con đường nên thánh.

Chính điều này đã mang đến cho cộng đoàn một bầu khí hiện sinh và nhân văn lành mạnh. Một cộng đoàn sống kinh nghiệm về sự nhỏ bé và yếu đuối theo luận lý của Tin Mừng.

Tất cả những điều này gợi lại điều thánh Phao-lô viết trong thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô. Bí quyết để cảm nghiệm được ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa là nhìn nhận mình yếu đuối và tội lỗi, nghĩa là nhìn nhận mình như “những chiếc bình sành dễ vỡ”, tuy nhiên, với chất liệu nghèo nàn đó, cũng có thể chứa đựng một kho tàng lớn: quyền năng của Thiên Chúa cứu độ chúng ta và làm cho chúng ta trở nên con người của sự hiệp thông dầu vẫn tồn tại những yếu đuối (x.2Cr 4, 7-15).

Tóm lại, có thể nói rằng các cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi vẫn là mẫu mực và là điểm quy chiếu cho sự hiệp thông sống động trong cộng đoàn. Kinh nghiệm sống động về một sự hiệp thông mãnh liệt và đích thực là có thể, ngay cả khi không tránh khỏi những căng thẳng và khó khăn, bởi vì cộng đoàn “là hình ảnh của một Giáo hội, được khai sinh nhờ giáo huấn của các Tông đồ và nhờ lời của Chúa, được cử hành trong hy tế Thánh Thể, và nhờ việc làm chứng về Chúa cho thế giới bằng dấu chỉ bác ái”.643 Cộng đoàn được xây dựng trên đá tảng (x.Mt 7,25) thì bền vững, nó trở nên một dấu chỉ tiên tri về sự hiệp thông, một tấm gương về vẻ đẹp có khả năng cứu rỗi thế giới.

Hơn nữa, cộng đoàn tự nó không phải là cứu cánh, nhưng luôn luôn là một cộng đoàn truyền giáo, mở ra theo thời gian và không gian cho tính liên văn hóa và tham gia vào sứ vụ cứu độ của Giáo hội trong thế giới.

“Sự hiệp thông huynh đệ như vậy - như tài liệu “Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn” xác định - đã là một hoạt động tông đồ, nó góp phần trực tiếp vào công cuộc loan báo Tin Mừng”.644 Hội dòng FMA ra đời trong một trải nghiệm cộng đoàn rất sâu sắc. Bầu khí nền tảng là ngọn lửa bác ái quy tụ những người nữ yếu đuối, nghèo khó, ít văn hóa. Cộng đoàn là nguồn năng lượng mạnh mẽ, thúc đẩy, sinh động, tập hợp những người rất khác nhau lại với nhau và giúp họ vượt qua những xung đột không thể tránh khỏi. Năng lượng ấy giống như một dòng nước phun ra và chảy tràn từ bên trong. Như Chúa Giê-su nhắc nhở chúng ta: “Ai khát hãy đến với tôi mà uống, ai tin vào tôi; như lời Kinh Thánh nói: những dòng nước hằng sống sẽ chảy ra từ lòng sông. Người nói điều này ám chỉ Thánh Thần mà những người tin vào Người sẽ nhận được” (Ga7,37-39).


Chú thích

624 Đc Novo Millennio Ineunte 43.

625 Đc Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn 35.

626 Đc Rahner Karl, Elementi di spiritualità nella Chiesa del futuro, trong Goffi Tullo- Secondin Bruno (biên tập), Problemi e prospettive di spiritualità, Brescia, Queriniana 1983, 440-441.

627 Cerfaux Lucien, Quelli di Gerusalemme [La communauté apostolique. Trad. di Renato Mainardi] = Ex libris 13, Reggio Emilia, Città Armoniosa 1979, 48.

628 Lettera di Don Domenico Pestarino al nipote Don Giuseppe (Mornese, 28 febbraio 1871), trong Orme di vita D 2, 21.

629 Đc Agasso Domenico, Maria Mazzarello. Il comandamento della gioia = Religione Torino, SEI 1993, VIII.

630 MB VII 218.

631 Lettera a mons. Ferdinando Terris, Vescovo di Fréjus e Toulon (Torino, 3 agosto 1877), trong Epistolario di Giovanni Bosco V 419.

632 Đc Viganò Egidio, Maria Mazzarello e lo spirito di Mornese, trong Cùng một tác giả, Non secondo la carne ma nello Spirito, Roma, Istituto FMA 1978, 122.

633 Verbale dell’elezione della Superiora Generale delle FMA (Nizza Monferrato, 1-9- 1880), trong Orme di vita D 118, 318.

634 Relazione della prima adunanza delle Superiore (Mornese agosto 1878), trong Orme di vita D 93, 239.

635 Hãy xem những bức thư của những người truyền giáo gửi cho Mẹ Mazzarello. Họ làm chứng cho chúng ta về lòng nhiệt thành tông đồ của vị FMA đầu tiên đã rời bỏ châu Mỹ khi còn rất trẻ (Đc Orme di vita D 83.105.106.107.110).

636 Hồi sử II 17.

637 Hồi sử III 184.

638 Hồi sử III 247.

639 Hồi sử V 327.

640 Hồi sử V 23.

641 Louf André, La vita spirituale, Magnano (Biella), Edizioni Qiqajon 2001, 135.

642 Hồi sử III 153-154.

643 Catechesi tradendae 10.

644 Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn 55.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026