4. Vườn nho và cây nho
Những cây nho tăng trưởng mạnh ở xứ nóng, trên những vùng đất khô và có nhiều đá vôi như xứ Pa-lét-tin. Ở Ga-li-lê, trên sườn đồi nhìn xuống thung lũng sông Gio-đan, nho là một trong những loại trái cây quý giá nhất. Nó cung cấp một thức uống tăng lực và tiếp thêm sức khỏe, “làm vui lòng người” (Tv 104,5). Vườn nho, cây nho, trái nho, rượu nho tạo thành một tập hợp các lễ vật, trong đó dân Ít-ra-en nhận ra lòng nhân từ của Thiên Chúa và vì thế, dân vui mừng cảm tạ. Mùa gặt đối với người Do Thái là một mùa lễ hội, sống động hơn nhờ những bài hát, điệu nhảy và tiệc tùng (x. Is 16,10; Gr 48,33). Chính vì tầm quan trọng của vườn nho, cây nho, trái nho, rượu nho, nên chúng hiện diện một cách có ý nghĩa trong Kinh Thánh: ngoài việc xuất hiện theo đúng ý nghĩa của chúng, chúng thường được các tác giả Kinh Thánh trình bày như những biểu tượng của mối liên hệ đặc biệt giữa Thiên Chúa và dân Người.
1. Biểu tượng vườn nho và cây nho trong Cựu Ước
- Dấu chỉ của sự chúc phúc từ Thiên Chúa
Những dây leo xum xuê, những chùm nho căng mọng nước là biểu tượng của sự sung túc, giàu có, mầu mỡ và niềm vui sống. Trái nho là một phần hoa quả đặc trưng của miền đất hứa, là dấu chỉ Thiên Chúa ban phúc lành. Sau cuộc hành trình mệt mỏi và hoang vắng trong sa mạc, Đức Chúa ban cho dân Người một miền đất phì nhiêu, có thể sống sung túc và yên bình: “Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sắp đưa anh (em) vào một miền đất tốt tươi […] miền đất có lúa mì, lúa mạch, cây nho, cây vả, cây lựu, miền đất có cây ô-liu để ép dầu và có mật ong, miền đất ở đó anh (em) sẽ ăn bánh mà không bị hạn chế, ở đó anh (em) sẽ không thiếu thốn gì” (Đnl 8,7-8). Những cành nho trĩu nặng trái so với các loại khác chứng tỏ lòng quảng đại của Đức Chúa. Một ví dụ đơn sơ được thấy rõ ràng trong thực tế mà sách Dân Số kể lại: những nhà thám hiểm do Môi-sê phái đến miền đất hứa, họ trở về mang theo những chùm nho to đến nỗi cần hai người cầm sào mới có thể vận chuyển được (Ds 13,23). Một sự thật rất quan trọng: thậm chí ngày nay, hình ảnh này đã phổ biến khắp nước Ít-ra-en như biểu tượng của các bộ máy chính trị và của các văn phòng du lịch quốc gia.
Từ năng suất sản sinh của đất, biểu tượng vườn nho và cây nho trong Kinh Thánh chuyển sang ám chỉ sự phong phú của con người: “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà, khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn” (Tv 128,3), và ám chỉ sự giàu có khôn ngoan: “Tựa cây nho, Ta nẩy mầm xinh tốt, hoa của Ta sẽ kết trái phú túc vinh quang”. (Hc 24,17). Tất cả đều là quà tặng Thiên Chúa ban, là dấu chỉ lòng nhân lành của Người.
- Chuyện tình giữa Thiên Chúa và dân Người
Không thể thiếu hình ảnh vườn nho và cây nho trong sách Diễm Ca, trong đó mô tả một lễ hội đầy màu sắc và hương thơm, những con vật tao nhã, những bông hoa rực rỡ và cây cối trĩu quả. Trung tâm buổi lễ là hai bạn trẻ đang thể hiện vẻ đẹp của tình yêu bằng sự giản dị, tự nhiên và trong sáng. Lời mời của người nữ trẻ dành cho người yêu toát lên vẻ tươi tắn và thân mật tinh tế: “Sáng tinh mơ, mình sẽ đến vườn nho xem nhánh nho đã đâm chồi, nụ nho đã hé mở và hoa lựu đã nở rồi hay chưa” (Dc 7,13). Và để bày tỏ niềm hạnh phúc say đắm của tình yêu, cô ấy hát: “Chàng đã đưa tôi vào phòng tiệc, cho tôi uống rượu nồng, đã thắng tôi nhờ sức mạnh tình yêu” (Dc 2,4).
Trong sách Diễm Ca, vườn nho và cây nho ám chỉ câu chuyện tình yêu giữa Thiên Chúa và dân được tuyển chọn của Người. Điều này được thể hiện rõ ràng hơn trong Thánh Vịnh 80, nơi Ít-ra-en được miêu tả như một cây nho dưới sự chăm sóc ân cần của Thiên Chúa: “Gốc nho này, Chúa bứng từ Ai-cập, đuổi chư dân, lấy chỗ mà trồng. Chúa khẩn hoang bốn bề quang đãng, cho bén rễ sâu và lan rộng khắp nơi” (c. 9-10). Các câu này ám chỉ rõ ràng đến cuộc xuất hành và hành trình tiến vào đất hứa. Và trong thời gian chịu sự tàn phá, Ít-ra-en đặt niềm hy vọng được tái sinh của mình vào lòng thương xót của Chúa và kêu cầu: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem. Xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng” (c. 15-16).
Sự đồng hóa mang tính biểu tượng này của cây nho với lịch sử của những người được chọn còn rõ ràng hơn trong truyền thống ngôn sứ. Ngay từ thời gian đầu của các ngôn sứ, được viết vào thế kỷ VIII, chúng ta tìm thấy hình ảnh này trong lời của Hô-sê: “Ít-ra-en vốn là một cây nho sum sê. Nhưng trái trăng càng nhiều, chúng càng dựng thêm các bàn thờ ngẫu tượng” (Hs 10,1). Vài năm sau, I-sai-a, với sự hoạt bát và cảm xúc tế nhị, nói về Ít-ra-en như một vườn nho được Thiên Chúa chăm sóc chu đáo. Nổi tiếng là “Bài ca tình yêu dành cho vườn nho” (Is 5,1-7):
Bạn thân tôi có một vườn nho trên sườn đồi mầu mỡ. 2 Anh ra tay cuốc đất nhặt đá, giống nho quý đem trồng, giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho. Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại […] 4 Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại? 5 Vậy bây giờ tôi cho các người biết tôi đối xử thế nào với vườn nho của tôi: hàng giậu thì chặt phá cho vườn bị tan hoang, bờ tường thì đập đổ cho vườn bị giày xéo. 6 Tôi sẽ biến thửa vườn thành mảnh đất hoang vu, không tỉa cành nhổ cỏ, gai góc mọc um tùm; sẽ truyền lệnh cho mây đừng đổ mưa tưới xuống. 7 Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh, chính là nhà Ít-ra-en đó; cây nho Chúa mến yêu quý chuộng, ấy chính là người xứ Giu-đa.
Cần lưu ý rằng, bất chấp bị lên án nặng nề, Ít-ra-en vẫn tiếp tục là “đồn điền yêu thích” của Đức Chúa, cho dù trong sách Giê-rê-mi-a Chúa quở trách: “Còn Ta, Ta đã trồng ngươi như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chủng. Sao ngươi lại thoái hoá thành những cành nho tạp chủng?” (Gr 2,21-22). Thiên Chúa không bỏ rơi dân Người, nhưng tiếp tục mời gọi dân hoán cải: “Sấm ngôn của Đức Chúa: Trở về đi, hỡi Ít-ra-en phản bội! Ta sẽ không nghiêm nét mặt với các ngươi nữa, vì Ta giàu lòng xót thương và Ta không giận dữ mãi đâu” (Gr 3,12). Trong thời kỳ suy vong của vương quốc Giu-đa, Ê-dê-ki-en lấy hình ảnh vườn nho để chống lại những kẻ tự kiêu về nghĩa của nó (Ed 15,2-6):
Hỡi con người, gỗ cây nho là gì mà lại tốt hơn mọi thứ gỗ, cành của nó là chi mà lại tốt hơn cành những cây khác trên rừng? 3 Người ta có dùng gỗ của nó vào công trình gì không, hay lấy nó làm cọc để treo bất cứ vật gì? […] 4 khúc giữa đã cháy, liệu còn dùng được vào việc gì chăng? […] 5 Khi còn nguyên vẹn, nó đã không dùng được vào công trình gì, phương chi bây giờ nó đã bị lửa thiêu rụi, hỏi nó còn dùng được vào công trình gì nữa? 6 Vì thế, Đức Chúa là Chúa Thượng phán như sau: Cũng như gỗ cây nho trong đám cây trên rừng đã bị Ta quăng làm mồi cho lửa, thì dân cư Giê-ru-sa-lem cũng bị Ta thiêu như thế.
Cây nho nằm trong số các loại cây khác nhau, giống như Ít-ra-en sống giữa các dân tộc khác nhau, nhưng Ít-ra-en cho rằng mình là đặc quyền, được chọn, là tốt nhất. Ê-dê-ki-en phản đối lối suy nghĩ này và chế giễu ý nghĩa của cây nho: cây nho hoặc sinh ra những trái nho như nó phải sinh ra hoặc nếu nó sinh ra trái khác thì hoàn toàn vô dụng. Không khó để nhận thấy trong câu nói này một khúc dạo đầu cho diễn từ của Chúa Giê-su về cây nho và cành nho (Ga 15) và dụ ngôn của “những người làm vườn nho sát nhân” (Mt 21,33). Lịch sử Ít-ra-en bắt đầu từ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, Đấng chăm sóc vườn nho đang bị chết rụi. Nhưng chính ở đây, Thiên Chúa đã can thiệp một cách lạ lùng bằng một hành động yêu thương cao cả: là sứ mệnh của Chúa Con.
2. Chúa Giê-su, cây nho thật
Thiên Chúa tự vấn qua lời tiên tri I-sai-a: “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?” (Is 5,4). Câu trả lời chính là Chúa Giê-su, Con của Người: trở thành một “cây nho đích thực”, trong đó mọi nhánh đều kết hợp mật thiết với Người, chia sẻ cùng một loại nhựa thần linh. Như vậy, cuối cùng, cây nho có thể sinh ra những trái nho mà Thiên Chúa mong đợi (x. Is 5,2). Chúa Giê-su loan báo điều mới lạ này trong diễn từ được tường thuật trong Gio-an 15,1-11, một bản văn dường như xoay quanh ba hạt nhân chính:
– Hình ảnh cây nho, cành nho và người nông dân
“Thầy là cây nho thật và Cha Thầy là người trồng nho […] Thầy là cây nho, anh em là cành” (15,1.5). Trong Cựu Ước: “vườn nho của Đức Chúa là nhà Ít-ra-en” (Is 5,7) và toàn bộ loạt hình ảnh vườn nho-cây nho-trái nho ám chỉ những người được tuyển chọn và lịch sử bất trung của họ đối với tình yêu của Thiên Chúa. Ở đây, bản văn tập trung sự chú ý vào Thiên Chúa và vào Chúa Giê-su, Chúa không ngồi uy nghi trên ngai vàng, nhưng hướng về phía cây nho và cành nho. Người làm vườn nho là người chăm sóc, trồng trọt, cuốc đất, tưới nước, tỉa cành. Chúa Giê-su là “cây nho thật”. Chính Người làm cho các cành là chúng ta được tồn tại. Các cành nếu tháp nhập vào cây nho, sẽ nhận được dòng chảy sự sống và tình yêu của cây, trở thành những cành mở rộng của cây và có thể sinh trái, trái mà cây nho muốn sinh ra và người trồng nho muốn. Vì vậy, cây nho, cành nho, quả nho là một phần của một tổng thể duy nhất trong kế hoạch của tình yêu và sự chăm sóc của người làm vườn nho.
– “Chặt” và “cắt tỉa”
“Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi, còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (15,2). Hành động “chặt” và “cắt tỉa” là của người làm nông dân. Việc “cắt tỉa” ám chỉ hành động giáo dục của Thiên Chúa nhằm làm cho các cành mọc lên và thêm vững mạnh, để chúng có thể “sinh nhiều hoa trái hơn”. Những cành nho, nếu không gắn liền với cây nho, sẽ khô héo và không những bị cắt bỏ, nghĩa là bị “chặt”, mà còn bị “vứt bỏ” và “đốt trong lửa” (15,6), nghĩa là chịu phán xét và bị lên án. Thánh Au-gút-ti-nô nhận xét: “Cành nho phải lựa chọn giữa thứ này và thứ khác: cây nho hoặc ngọn lửa”. Tính chất triệt để này lặp lại câu hỏi của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ của Người, trước đám đông đang hoài nghi sau “bài phát biểu cứng rắn” của Người về bánh hằng sống: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67). Ai không hiệp thông sâu xa với Thầy thì bỏ đi, đừng đi theo Thầy vì bất cứ điều gì.
- “Ở lại” và “sinh hoa kết trái”
“Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. […] Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. […] Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15,4-11).
Có hai động từ ám chỉ đến cành nho: “ở lại” và “kết trái”. Cụm từ “ở lại” xuất hiện 10 lần trong 11 câu Kinh Thánh trên (1-11). Từ “ở lại” có một nghĩa kép: chỉ sự ở lại một nơi lâu dài, nhưng cũng chỉ một khoảng thời gian ổn định. Điều mà Chúa Giê-su đòi hỏi nơi những người theo Chúa là một mối quan hệ bao gồm không gian-thời gian, một mối quan hệ mãnh liệt và sâu sắc, vững chắc và năng động. Việc “ở lại trong Chúa Giê-su” được làm rõ hơn trong việc “ở lại trong lời Người” và “ở lại trong tình yêu của Người”. Từ “sinh hoa kết trái” xuất hiện 6 lần trong bản văn trên, liên kết chặt chẽ với việc “ở lại trong Đức Giê-su”, Đấng là nguồn gốc và cội rễ của mọi khả năng sinh hoa kết trái, bởi vì “không ai có thể tự mình sinh hoa trái” (câu 4) và “không có Thầy anh em không thể làm gì được” (câu 5). Nhưng “sinh hoa kết trái” không được hiểu theo nghĩa làm ra và sản sinh ra nhằm mục đích thực dụng và chức năng, mà nhắm đến một “niềm vui viên mãn” (câu 11).
3. Vườn nho và cây nho trong cuộc đời của M.D. Mazzarello
Những vườn nho dốc thoai thoải xuống đồi, những hàng nho gọn gàng chạy dọc mặt đất: đây là phong cảnh thông thường của vùng nông thôn Monferrato, nơi M. D. Mazzarello đã sống cả cuộc đời mình. Khung cảnh thanh bình này lấp đầy đôi mắt của Thánh nữ. Thánh nữ học cách thưởng thức vẻ đẹp của những chiếc lá nhảy múa trong gió, những màu sắc thay đổi theo mùa, những cành nho ra hoa, những chùm nho vàng óng, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Thánh nữ trải nghiệm sự mong đợi, ngạc nhiên, kiên nhẫn, niềm vui và mọi cảm xúc hiện diện nơi những người làm việc trên mảnh đất này.
Là một thiếu nữ, đặc biệt là trong mười năm cư trú tại trang trại Valponasca, Thánh nữ đã dành nhiều thời gian để làm việc trong vườn nho cùng với cha mình. Sức mạnh thể chất, tính cách đầy nghị lực, cộng với mong muốn chia sẻ công sức để nuôi sống gia đình, đã khiến Thánh nữ dốc hết sức mình cho công việc nhà nông. “Tay cô cầm cuốc khéo như kim”, 757 để khơi dậy sự ngạc nhiên của tất cả. Ban đầu, những công nhân khác nhìn Thánh nữ với nụ cười trêu chọc, nhưng thời gian trôi qua, họ quan sát Thánh nữ với sự tôn trọng, sợ rằng họ không thể bằng Thánh nữ.
Maria Domenica biết rõ công việc của người nấu rượu mà Chúa Giê-su gán cho Chúa Cha (Ga 15,1). Thánh nữ là một chuyên gia trong việc trồng trọt, cuốc đất, tỉa cành, buộc cành, cắt cành khô và cuối cùng là thu hoạch. Đối với Thánh nữ, vườn nho là một phòng thí nghiệm không chỉ để làm việc cách có phương pháp, mà còn thực hành về trí thông minh thực tế, khả năng tổ chức, cách phản ứng trước các thay đổi bất ngờ của khí hậu, tính tháo vát và khả năng hợp tác với người khác.
Trong vườn nho, Thánh nữ rèn luyện bản thân để biết tận dụng thời gian, tạo ra những khoảng nghỉ nhỏ để đối thoại say sưa với Chúa, hoặc để nâng dậy tinh thần của mình. Một công nhân làm chứng rằng ông đã nhiều lần thấy Thánh nữ quỳ giữa đám dây leo và cầu nguyện: “Trong những giờ nghỉ, trong khi những công nhân nhóm lại trò chuyện với nhau, cô ấy lui ra sau một số cây và lấy cớ là muốn tận hưởng chút bóng mát, lúc thì cô ấy đọc một số cuốn sách tâm linh nhận được từ Cha Pestarino, khi thì cầu nguyện, khi thì chiêm niệm”. 758 Vườn nho cũng mang đến cho Thánh nữ cơ hội để có được kỷ luật nghiêm túc, một trật tự cuộc sống được đánh dấu giữa làm việc và nghỉ ngơi, giữa lao động cần cù và giải trí vui vẻ. Nó giúp Thánh nữ hiểu rằng “Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời” (Gv 3,1). Vườn nho tạo thành nền tảng cho sứ mệnh giáo dục trong tương lai của Thánh nữ. F. Maccono, người viết tiểu sử của Thánh nữ kể lại rằng, với tư cách là Mẹ và là nhà đào luyện, nhiều lần Mẹ gửi các nữ tu trẻ hoặc những em thỉnh sinh đi tham quan vườn nho hoặc ăn nhẹ giữa những cây nho trong thời gian thu hoạch, khuyến khích mỗi người chọn một chùm nho theo ý thích. 759 Vì thế, câu nói “chạy ra vườn nho” trở thành một công thức kỳ diệu của Mornese để làm mới năng lượng thể chất và tinh thần, đồng thời lấy lại niềm vui và sự nhiệt tình.
Cuộc sống hàng ngày mang đến nhiều cơ hội nhỏ để tận hưởng niềm vui một cách đơn giản và chân thành. Ở Mornese, làm việc hy sinh diễn ra thường xuyên cơm bữa, nhưng nó không lấy đi niềm vui của những khoảnh khắc yên bình, những điều đẹp đẽ và những mối tương quan huynh đệ. Ngay cả việc giặt giũ tại suối Roverno cũng là một dịp để hàng tuần cùng nhau sống vui vẻ, chia sẻ những vất vả và sống tình huynh đệ. Lấy kinh nghiệm từ vườn nho và ký ức về niềm vui của mùa màng, mẹ Mazzarello rất thích gọi đùa ngày giặt giũ trong mùa đông khắc nghiệt là “ngày của mùa gặt”. 760
Đối với Maria D. Mazzarello, vườn nho là trường học của cuộc sống và là sự chuẩn bị cho sứ mệnh giáo dục. Ngày nay, số vườn nho ở Mornese đã giảm đi rất nhiều, nhưng những ai đến thăm thị trấn nhỏ này, đặc biệt là những người leo lên đồi Valponasca, vẫn có thể hình dung ra cô gái trẻ Maria Domenica đang làm việc. Người đó vẫn có thể nhớ về một cuộc sống đơn sơ, vất vả nhưng thanh thản; người đó vẫn có thể nghĩ đến “trái của cây nho và lao công của con người” mà Chúa Giê-su biến chúng thành “của uống sự sống” cho chúng ta. Người đó có thể hiểu lý do mà nữ tu Maria Pia Giudici muốn đặt cho kiệt tác của mình, là bộ phim về M. D. Mazzarello cái tên: “Cành nho của một mảnh đất màu mỡ”. Người đó cũng có thể nghe thấy giọng nói của Chúa Giê-su, sống động và rõ ràng: “Thầy là cây nho, anh em là cành… Cha Thầy là người trồng nho. Ai ở lại trong Thầy thì sinh nhiều hoa trái”.
Chú thích
757 Hồi sử I 43.
758 Nt 45.
759 Đc Maccono I 288; II 84; II 147,150.
760 Đc Maccono II 60; 208.