5. Khu vườn
Khu vườn là một nơi yên bình và thú vị, được bao bọc bởi một hàng rào hoặc một bức tường, với những bông hoa và cây cối xum xuê, những thảm cỏ rực rỡ, đầy màu sắc và hương thơm của hàng ngàn sắc thái. Trong nghệ thuật tranh ảnh và trong văn học của mọi thời đại, của mọi nền văn hóa, khu vườn gợi lên sự hài hòa giữa thiên nhiên và hành động có trật tự của con người, giữa Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa và con người thụ tạo, giữa Thiên Chúa sáng tạo và con người nghệ sĩ. Hình ảnh của khu vườn có nguồn gốc của từ thiên đường =paradiso (trong tiếng Ba Tư là Pairidaeza, trong tiếng Do Thái là pardeš và trong tiếng Hy Lạp là parádeisos, với nghĩa sơ khai là “vườn kín”), nó gợi lên vẻ đẹp thuần khiết, thanh bình của cội nguồn và số phận hạnh phúc của con người và vũ trụ vào thời cánh chung của lịch sử. Khu vườn là không gian kích thích nhiều giác quan của con người: thị giác về màu sắc và hình khối, ánh sáng và bóng tối, mùi vị và hương thơm thuộc nhiều loại và mức độ khác nhau, tiếng gió, tiếng nước, những cuộc trò chuyện thì thầm hoặc trò chơi của trẻ em. Hơn nữa, nó còn là nơi khơi dậy vô số cảm xúc và tình cảm.
Khu vườn là nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ và nhà thơ, là tấm gương phản chiếu tâm hồn con người đối với các nhà tâm lý học, là phép ẩn dụ cho sự phát triển nội tâm đối với các học giả và nhà thần bí. Không thể không nhắc tới một hình ảnh đầy ý nghĩa về cuộc đối thoại giữa thần linh và con người được kết tinh trong bản văn Kinh Thánh. Ngay cả Maria Mazzarello, với cuộc sống đơn sơ giản dị của mình, cũng có trải nghiệm này. Chúng tôi cố gắng tìm hiểu bối cảnh và ý nghĩa của kinh nghiệm đó. Liệu kinh nghiệm của Thánh nữ có bất kỳ sự hài hòa nào với các hình ảnh trong Kinh Thánh hay không?
1. Hình ảnh khu vườn trong Kinh Thánh
- Khu vườn ở phần đầu và phần cuối sách Kinh Thánh
Hình ảnh khu vườn xuất hiện ở phần đầu sách Kinh Thánh và cách rõ ràng hơn, ở phần cuối sách Kinh Thánh. Giờ đây, ta bước vào sách Sáng Thế với khung cảnh của một khu vườn nguyên thủy:
“Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra. Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn và cây cho biết điều thiện điều ác. Một con sông từ Ê-đen chảy ra tưới khu vườn và từ đó chia thành bốn nhánh” (St 2,8-10).
Chúng ta đang đứng trước một tường thuật lịch sử rõ ràng, tuy nhiên nó lại có một ý nghĩa mang tính biểu tượng và khôn ngoan. Bằng ý tưởng, sách Sáng Thế muốn quay về cội nguồn nhân loại để tìm ra ý nghĩa và cùng đích của mình. Chúng tôi quay trở lại thời khởi thủy không phải để kể những gì đã xảy ra trong lịch sử, mà để chỉ ra gốc rễ của mọi sinh vật con người trong kế hoạch của Thiên Chúa. Trong những câu đầu tiên của sách kể rằng: “Thiên Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi” (St 2,7). Người đàn ông được đặt trong một “khu vườn” đặc biệt “được trồng” cho anh ấy. Đầu tiên, Đức Chúa xuất hiện với tư cách là một người thợ gốm hoặc một nghệ nhân “tạo hình”, trong hoàn cảnh của bản văn trên, Người xuất hiện với tư cách là một nông dân hoặc một người mẹ yêu thương chuẩn bị môi trường cho đứa con mới sinh của mình. Khu vườn là môi trường sống đầu tiên, ngôi nhà đầu tiên, không gian sống đầu tiên được Thiên Chúa chuẩn bị cho thụ tạo yêu quý của mình.
Sau đó, văn bản viết: “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai” (St 2,15). Khu vườn được Thiên Chúa ban cho toàn thể nhân loại. Mỗi con người khi đến với thế giới đều nhận được món quà này như một cơ nghiệp. Trong khu vườn ấy, con người sống rất tốt. Nó đẹp, có nguồn nước dồi dào (với bốn con sông), thực vật, cây cối và trái cây: đó là một “thiên đường” theo nghĩa gốc của thuật ngữ này. Nhưng khu vườn không phải là một thực thể tự duy trì: nó cần sự chăm sóc của con người. Chăm sóc - vun trồng khu vườn là một phần bản chất và ơn gọi của con người. Con người trở nên nhân bản hơn như mức độ con người trồng trọt và chăm sóc khu vườn. Theo cách này, chúng ta có định nghĩa về con người lao động, về con người cộng tác với Chúa khi con người tham gia, với tất cả trí thông minh và khả năng của mình, vào việc biến đổi vật chất và sống trong sự hài hòa đầy tôn trọng với tạo vật.
Tuy nhiên, khu vườn xinh đẹp cũng ẩn chứa những cạm bẫy. Nơi mà “Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày” (St 3,2) cũng là địa hình mà con rắn cám dỗ và lừa dối xuất hiện. Vòng vây lý tưởng sớm bị phá vỡ bởi tội lỗi, tuy nhiên, tội lỗi không có tiếng nói cuối cùng: ma quỷ không thể cản trở chương trình yêu thương của Thiên Chúa. Trong những trang cuối cùng của sách Kinh Thánh, chúng ta thấy lại vẻ đẹp của khu vườn nguyên thuỷ: xuất hiện một thành phố - khu vườn bí ẩn:
“Rồi thiên thần chỉ cho tôi thấy một con sông có nước trường sinh, sáng chói như pha lê, chảy ra từngai của Thiên Chúa và của Con Chiên. Ở giữa quảng trường của thành, giữa hai nhánh sông, có cây Sự Sống sinh trái mười hai lần, mỗi tháng một lần; lá cây dùng làm thuốc chữa lành các dân ngoại” (Kh 22,1-2).
Đó là Giê-ru-sa-lem mới, thành phố trên trời, một thành phố mới gợi nhắc đến vườn địa đàng, một thành phố thiên đường, nơi đó, các cư dân thưởng thức các loại trái cây phong phú và lá khỏe mạnh của cây. Nước của các dòng sông nguyên thủy trở thành nước của dòng sông cánh chung chảy ra từ ngai Thiên Chúa và Chiên Con, nghĩa là từ Đền thờ mới. Sự huy hoàng của khu vườn ở phần cuối sách Kinh Thánh gợi lên vẻ đẹp thuần khiết của khu vườn trong phần đầu sách Kinh Thánh và vượt lên trên nó. Điều đó có nghĩa là, vào cuối thời gian, Thiên Chúa sẽ ban cho con người nhiều hơn những gì Người đã ban cho lúc ban đầu trong vườn Ê-đen. Tại sao thế? Chìa khóa cho bước ngoặt này nằm ở trong biến cố làm nên trung tâm của lịch sử cứu độ và được xảy ra trong một khu vườn khác.
- Khu vườn ở trung tâm
Với từ ngữ “trung tâm”, chúng ta muốn nói đến mầu nhiệm Vượt Qua vốn là trung tâm và đỉnh cao của kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô, đây chính là bước ngoặt của vận mệnh nhân loại. Điều thú vị là Phúc Âm Gio-an đặt khu vườn làm bối cảnh cho sự kiện trọng đại này. Thực vậy, “khu vườn” tái hiện năm lần trong câu chuyện về cuộc khổ nạn và phục sinh, gần như đóng vai trò như một chất kết nối cho các trình thuật khác nhau.
Thánh sử bắt đầu trình thuật về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su như sau: “Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kít-rôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào” (Ga 18,1). Trong khu vườn này, các Giáo phụ đã nhìn thấy một sự ám chỉ đến khu vườn nguyên thủy, nơi Thiên Chúa đã đặt con người vào. Trong khi từ khu vườn nguyên thủy sự diệt vong bắt đầu, thì trong khu vườn mới này sự cứu rỗi bắt đầu. Dù là trong “vườn Ê-đen, ở phía đông” cũng như trong vườn Giết-sê-ma-ni, nằm ở phía đông thành phố Giê-ru-sa-lem, sự thật và sự dối trá, tình yêu và sự phản bội đều phải đối mặt nhau. Nếu tại vườn địa đàng, sự lừa dối đã chiến thắng, thì giờ đây, tại khu vườn mới này, chiến thắng nghiêng về phía sự thật và tình yêu.
Sau đó, có một khu vườn khác, trên đồi Gôn-gô-tha, nơi Chúa Giê-su chịu đóng đinh, chôn cất và phục sinh. “Bấy giờ, tại nơi Người bị đóng đinh, có một khu vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới chưa chôn cất ai. Do đó, vì hôm đó là ngày lễVượt Qua của người Do Thái, và vì ngôi mộở gần đó, nên họ đặt Chúa Giê-su vào trong mộ” (Ga 18,41). Trong cuộc hành trình từ Giết-sê-ma-ni đến Gôn-go-tha, từ khu vườn này sang khu vườn khác, Chúa Giê-su hoàn thành cuộc Vượt Qua của mình.
Gio-an đặt nơi đóng đinh, nơi chôn cất và nơi phục sinh trong cùng một khu vườn. Sự thống nhất về địa hình làm nổi bật sự thống nhất của mầu nhiệm Vượt Qua, trung tâm của đức tin Ki-tô giáo, như chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin kính: “Người đã chết, đã được mai táng và ngày thứ ba Người sống lại” . Ngày thứ ba “vào buổi sáng, khi trời còn tối” (20,1) một người phụ nữ lo lắng tìm kiếm “Chúa của mình”. Không tìm thấy Chúa, cô ấy khóc lóc và nghĩ cách hợp lý: “Họ đã lấy Chúa của tôi đi rồi!” (20,13) Khi những phạm trù con người không thể vượt ra khỏi bóng tối và sự hoang mang, người mà ai cũng tin rằng đã biến mất, nay đến gặp họ theo một cách hoàn toàn bất ngờ. Maria không nhận ra Người, “nghĩ đó là người giữ vườn” (20,15). Giống như tất cả, những hiểu lầm cố ý trong Phúc Âm Gio-an cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa. Thực ra, Chúa Giê-su là “người giữ vườn”, Thiên Chúa đến để loan báo tin mừng rằng khu vườn - món quà tình yêu từ thuở sơ khai của nhân loại - chắc chắn không bị mất đi. Con người đã không biết cách “canh giữ” vườn Địa Đàng và hạnh phúc của chính mình khi sống ở đó; bây giờ, người bảo vệ thực sự không đưa con người trở lại “thiên đường đã mất”, nhưng bằng cách khôi phục lại sự thuần khiết từ nguồn gốc của nó, mà dẫn con người đến một sự sung mãn mới.
- Khu vườn nơi gặp gỡ của tình yêu
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na vào buổi sáng phục sinh gợi lên một số trích đoạn trong sách Diễm Ca, nơi đó, khu vườn được dùng làm bối cảnh. Sách Diễm Ca thu thập một loạt các bài hát mà nhân vật chính là một nam và một nữ, không có tên thật, họ tôn vinh phép màu của tình yêu theo một cách cổ xưa và luôn mới mẻ. Đặc biệt là trong chương 4-6, cuộc đối thoại giữa Chàng và Nàng có phông nền quy chiếu đến khu vườn đầy hương thơm và màu sắc. Với Chàng, người yêu là “khu vườn khép kín”, “dòng suối canh phòng nghiêm mật, giếng nước niêm phong” (4,12); đối với Nàng, người yêu là “hơi thở của khu vườn” tỏa hương thơm (4,16; 5,1). Chàng “để đàn vật ăn trong vườn”, “cho chiên gặm cỏ” (6,2-3), Nàng đi xuống “vườn hạnh đào ngắm chồi non thung lũng; xuống xem nho đã đâm chồi, xuống xem hoa lựu nở rồi hay chưa” (6,11). Khu vườn, nơi Thiên Chúa đã đặt con người vào đó, là nơi phát triển những gì thuần khiết, cao quý, đẹp đẽ, tinh tế nhất trong con người, nơi thu hút lẫn nhau, nơi gặp gỡ, biến mất, tìm kiếm, tìm thấy lại và tất cả những năng động của tình yêu.
- Biến sa mạc thành khu vườn
“Thượng Đế đã tạo ra thế giới như một khu vườn um tùm, cây cối rậm rạp, đầy suối, đồng cỏ và hoa. Ở đó, Thượng Đế đã đặt để những người nam và người nữ đồng thời khuyên nhủ họ: “Đối với mọi tội ác mà các ngươi phạm phải, ta sẽ thả một hạt cát vào ốc đảo bao la của thế giới này. Nhưng những người đàn ông và phụ nữ, đầy vô tư và phù phiếm, nói với nhau: Một hạt cát trong một màu xanh bao la như vậy có là gì? Và họ bắt đầu sống phù phiếm và vui vẻ, gây ra những bất công lớn nhỏ. Họ không nhận ra rằng, đối với mỗi lỗi lầm của họ, Đấng Tạo Hóa vẫn tiếp tục thả những hạt cát khô xuống thế giới. Như vậy, các sa mạc được sinh ra, ngày càng mở rộng năm này qua năm khác, siết chặt khu vườn trên Trái đất trong vòng kìm kẹp chết chóc, giữa sự thờ ơ của cư dân”.
Đây là một câu chuyện đến từ thế giới Hồi giáo và có ảnh hưởng lớn. Lúc đầu, Thiên Chúa đặt con người trong khu vườn, nhưng con người thích tiếng nói của con rắn hơn tiếng nói của Thiên Chúa, đã biến khu vườn đó thành sa mạc, thành một nơi khắc nghiệt, nơi “không thể gieo vãi, không vả, không nho, không lựu, không cả nước uống” (Ds 20,5). Cơ cấu hài hòa do Đấng Tạo Hóa muốn giữa con người và thiên nhiên bị xé toạc, để cho trái đất giờ đây sinh ra hoa trái là “gai góc và sỏi đá” (St3,18). Nhưng Thiên Chúa không bỏ cuộc và không mệt mỏi, Người bắt đầu một quá trình đảo ngược: “sa mạc sẽ trở thành một khu vườn” (Is 32,15)và Ít-ra-en sẽ “như một khu vườn được tưới nước” (Is 58,11). Như thế, ngay cả con người cũng không phải quỵ ngã. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô viết:
“Tuy nhiên, tất cả không mất đi, bởi vì con người có khả năng hạ thấp bản thân đến cùng cực, cũng có thể vượt qua chính mình, quay trở lại lựa chọn điều tốt và tự tái sinh […]. Không có hệ thống nào có thể hoàn toàn vô hiệu hóa sự mở ra với sự thiện, sự thật và cái đẹp, cũng như khả năng phản kháng lại điều mà Thiên Chúa tiếp tục khuyến khích từ sâu thẳm trái tim chúng ta”. 761
Chúng ta hy vọng rằng cát sẽ giảm bớt và chúng ta sẽ có thể hát:
“Vui lên nào, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông” (Is 35,1). Chúng ta tiếp tục thực hiện nhiệm vụ “trồng và chăm sóc vườn” (St 2,15) mà Chúa đã trao phó cho chúng ta ngay từ khởi đầu, dưới sự hướng dẫn của Đức Giê-su Ki-tô, “người giữ vườn” (Ga 20,15).
2. Hình ảnh khu vườn trong cuộc đời và cáclá thư của M. D. Mazzarello
Chúng tôi chỉ ra đây hai dữ liệu thú vị, qua đó hình ảnh khu vườn được áp dụng cho môi trường sống của Maria D. Mazzarello:
Sự xuất hiện của Cha Domenico Pestarino ở Mornese vào năm 1847 đã đánh dấu sâu sắc sự trưởng thành của Maria Domenica và đem lại một sự đổi mới mang tính quyết định của bầu khí chung trong giáo xứ vẫn còn bị thấm nhuần một sự nghiêm khắc nhất định. Trong một thời gian ngắn, sự chúc phúc lan rộng đến toàn vùng, “đến nỗi Đức Giám mục Contatto, người đến viếng thăm mục vụ, đã nói: Mornese là khu vườn của giáo phận tôi!”. Và người viết tiểu sử của Cha Bosco nhận xét: “Maria Mazzarello đã và lẽ ra phải xuất hiện trước mọi người, vì là bông hoa đẹp nhất của Mornese!” (MB X 578). Chúng là những lời khen ngợi bậc nhất thể hiện qua những hình ảnh rất đơn giản.
Trong những tháng đầu tiên của Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, Mẹ Enrichetta Dominici, Bề trên Tổng quyền của các nữ tu Dòng Thánh An-na, sau khi đến Mornese vào tháng 1 năm 1873 để kiểm tra, trước khi nhận lời mời của Cha Bosco cử hai nữ tu “làm chị lớn” đến cộng đoàn mới khai sinh,762 trong một Lá thư gửi cho vị linh hướng của mình, Mẹ bề trên ca ngợi các nữ tu tốt bụng của Mornese, bà kết luận: “Đất đai có vẻ rất tốt, được canh tác bền bỉ, hy vọng sẽ sinh hoa trái tốt”. 763 Việc sử dụng hình ảnh “mảnh đất tốt” để mô tả “tinh thần Mornese” đã được phác thảo ngay từ đầu là rất có ý nghĩa. Một hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong Kinh Thánh và rất quen thuộc với các FMA đầu tiên đến từ môi trường nông thôn.
Mẹ Mazzarello hẳn đã biết đến những cánh đồng và vườn nho nhiều hơn những khu vườn đầy hoa và hương thơm, nhưng biểu tượng hùng hồn của khu vườn không còn xa lạ với Mẹ. Gần đến ngày lễ Đức Maria Vô Nhiễm, Mẹ chỉ khuyên chị em: “Chúng ta hãy gieo vào lòng mình những bông hoa đẹp rồi kết thành một bó hoa thật đẹp để dâng lên Đức Maria rất thánh yêu dấu nhất” (Thư số 27,7): những lời đơn sơ giản dị bộc lộ sự chân thật và tinh tế của tâm hồn. Hình ảnh khu vườn xuất hiện rõ ràng trong hai lá thư gửi cho thiếu nữ trẻ Marianna Lorenzale:
“Khu vườn của con có được cắt tỉa gọn ghẽ và có đem nhiều hy vọng tốt đẹp cho mùa thu hoạch không? Này con, khu vườn phải được so sánh với tâm hồn của con đó. Nếu chúng ta vun trồng tử tế thì nó sẽ đem lại nhiều hoa trái tốt lành, nếu mỗi ngày ta bỏ mặc và không vun trồng thì nó sẽ đầy cỏ dại, có phải thế không? Vậy hãy can đảm và mỗi ngày trông nom khu vườn, nếu tìm thấy có thứ gì đó gây cản trở, thì hãy phơi khô nó đi” (Thư số 50,1-2).
“Ðiều quan trọng hơn cả là con hãy lưu ý để giữ cho khu vườn tâm hồn con được cắt tỉa sạch sẽ. Thỉnh thoảng con phải đưa mắt nhìn xem có cỏ dại làm nghẹt các cây tốt khác hay không” (Thư số 58,3).
Mẹ Mazzarello sánh ví trực tiếp khu vườn với cõi lòng. Mẹ khuyên nên “chỉnh đốn” cõi lòng cho tốt, để “tu luyện” nó. Đây muốn nói đến sự chú ý thận trọng của nỗ lực rèn luyện “mỗi ngày”. Mẹ nhận thức rõ tác hại của việc cỏ dại sinh sôi nhanh, dễ làm cây trồng bị ngạt thở, bị lấn át. Người mẹ nhắc nhớ “con hãy nghĩ rằng các khuyết điểm là những thứ cỏ trong khu vườn của chúng ta, cần phải hạ mình và can đảm chiến đấu với nó” (Thư số 55,8). Đối với Sơ Angela Vallese, giám đốc, Mẹ đưa ra lời khuyên cụ thể về cách hướng dẫn các chị em trong hành trình nên thánh đầy vui tươi và đầy đòi hỏi: “Hãy làm cho chị em luôn vui vẻ, hãy luôn sửa lỗi chị em với đức ái, nhưng đừng bao giờ bỏ qua một khuyết điểm nào. Một khuyết điểm được sửa chữa ngay lập tức, nhiều khi không là gì, nhưng nếu để nó mọc rễ thì sau đó cần phải khó nhọc lắm mới nhổ đi được” (Thư số 17,1). Những lời trong các lá thư trên gợi lại các câu chuyện ngụ ngôn về hạt giống (Mt 13,3-9; 18-23) và cỏ lùng (Mt 13,24-30) mà Chúa Giê-su thuật lại cách rất sinh động và giàu tình tiết. Ngay cả Chúa Giê-su cũng quen thuộc với cuộc sống của người nông dân, với sự khôn ngoan điển hình của những người trồng trọt và vun xới.
Maria Mazzarello ý thức rõ rằng không dễ để giữ cho khu vườn tâm hồn được “chỉnh đốn tốt”, Mẹ biết rất rõ những khó khăn trong việc nhổ cỏ dại, Mẹ thực tế nhưng lạc quan, bởi vì Mẹ không đặt niềm tin quá nhiều vào bản thân mà đặt niềm tin vào Chúa: “Chúng ta là những người khốn khổ và chúng ta không thể nên hoàn hảo, vì thế hãy khiêm tốn, tự tin và hạnh phúc” (Thư số 58,3). Với sự khôn ngoan và tình mẫu tử, Mẹ khuyên nhủ các chị em trẻ đừng mất kiên nhẫn và thanh thản trước những khó khăn bên ngoài, những khó khăn không thể thiếu nhưng chỉ xuất hiện thoáng qua: “không sao cả, đến thời của nó những bông hồng luôn tươi nở, nhưng trước đó hoa hồng trổ ra những gai nhọn […]. Ồ! các con hãy luôn vui tươi, vì mọi sự trên trần gian này đều qua đi hết” (Thư số 39,6).764
Hình ảnh khu vườn cũng được áp dụng vào nghệ thuật giáo dục của Mẹ Mazzarello. Nữ tu Enrichetta Sorbone, người đã từng trải qua sự hướng dẫn khôn ngoan của Mẹ trong một thời gian dài, chứng thực: “Mẹ trông giống như một người làm vườn thực thụ trong Hội dòng để xem mình nên trồng hay cấy loại hoa nào. Khi Mẹ thấy rằng một cây hoa không phù hợp lắm ở văn phòng này, thì Mẹ đã đặt nó ở một văn phòng khác”. 765 Có rất nhiều bằng chứng về kỹ năng giáo dục đáng chú ý và khả năng chăm sóc mọi người bằng tình yêu thương và sự kiên nhẫn của Mẹ. Ví dụ: “Mẹ biết rõ các thanh thiếu nữ, khuynh hướng cá nhân, mặt yếu của từng người và Mẹ cố gắng tạo cho họ sự nghiêm túc, năng động, chân thành”.766 Mẹ giải thích nguyên tắc vàng của mối tương quan giáo dục cá vị: “Cần nhìn ra và học biết những tính khí tự nhiên, đồng thời biết xử sự để đạt được sự thành công tốt đẹp, cần khơi dậy sự tín nhiệm” (Thư số 25,2).
Lưu ý cuối cùng: ngoài “khu vườn của tâm hồn”, Mẹ Mazzarello nói rất nhiều về một khu vườn đặc biệt, đó là thiên đàng (49 lần trong 68 lá thư của Mẹ). Có lẽ Mẹ không biết rằng thuật ngữ thiên đàng có ngụ ý là khu vườn, tuy nhiên, Mẹ nhận thức được thực tế rằng, bằng cách chăm sóc tốt khu vườn của cõi lòng, người ta sẽ tận hưởng khu vườn của trời cao, “thiên đàng của Chúa” (Kh 2,7).
Chú thích
761 Laudato si’ 205.
762 Đc Hồi sử II 19.
763 Orme di vita D 14.
764 Hình ảnh hoa hồng có gai gợi nhớ tới giấc mơ giàn hoa hồng của Cha Bosco vào năm 1847 (MB III 32-33) và những lời khích lệ của ngài: “Đầu tiên là gai và sau đó là hoa hồng. Đúng là đời tu đòi phải làm việc không ngừng, cần có tinh thần hy sinh, khiêm nhường từ bỏ mình; nhưng cũng chính những thử thách này lại là nguồn ân sủng lớn lao hơn và những niềm an ủi rất lớn” (MB XIII 233); “để hái hoa hồng, như chúng ta biết, người ta sẽ chạm phải gai; nhưng trong gai luôn có hoa hồng” (MB XVII 131); “Can đảm lên! Những chiếc gai ở dưới trần gian biến thành những bông hồng cho Thiên đường”: một lời gửi đến Caterina Pagliassotti, người đã quyết định vào Hội dòng FMA (Hồi sử IV 323).
765 Summarium 265.
766 Hồi sử I 127.