FMA Logo

6. Ngôi nhà



Khi chúng ta nghĩ về ngôi nhà, chúng ta không chỉ nghĩ đến địa chỉ, tòa nhà, kiến trúc xây dựng với tường, cửa ra vào, cửa sổ, mái nhà, v.v. Ngôi nhà luôn có nhiều ý nghĩa vượt xa ý tưởng về một địa điểm có thật.

1.   Ngôi nhà: căn tính và sự thuộc về

-       Ngôi nhà là không gian vật chất, tâm lý, xã hội, tinh thần mà con người sống, trú ngụ, phát triển tiềm năng, phục hồi sức lực, lấy lại năng lượng, thiết lập các mối quan hệ, v.v…

-       Nói về ngôi nhà khiến ta nghĩ ngay đến một không gian, nhưng nó không chỉ liên quan đến không gian, nó còn là sự kết hợp giữa không gian, thời gian và các mối quan hệ của con người. Bởi vì nó không chỉ nói về một địa điểm, mà còn là một lịch sử, một quá khứ, hiện tại, tương lai và một nhóm người cùng chung sống với nhau bằng tình máu mủ ruột thịt.

-       Ngôi nhà đại diện cho toàn bộ cuộc sống. Đó là nơi sinh ra và chết đi, nơi chứa đựng những niềm vui và nỗi buồn, đến và đi, hợp và tan; đó là nơi tổ chức lễ hội, lưu truyền phong tục, lưu giữ kỷ niệm, dự phóng kế hoạch, giải quyết vấn đề, chắp cánh ước mơ, tạo ra những cử chỉ liên đới và phục vụ, hưởng nếm vẻ đẹp của sự cho không, sự tự nguyện và tự do.

-       Ngôi nhà là nơi diễn ra những trải nghiệm thiết yếu đầu tiên của con người: sờ, nhìn, nghe, v.v… Nó là một môi trường được xác định bởi nhiều đồ vật, âm thanh, màu sắc, hương vị, nhưng trên hết là khuôn mặt của những con người thuộc các thế hệ khác nhau, nhưng gắn kết với nhau bằng tình cảm máu mủ. Nó là nơi của những cảm xúc đầu tiên và những mối quan hệ đầu tiên.

-       Nhà là nơi xây dựng căn tính của việc đào luyện lương tâm, đạt được những niềm tin chắc chắn và gu thẩm mỹ (theo nghĩa này, câu hỏi của Chúa dành cho con người đầu tiên: “Ngươi ở đâu?” (St3,9) và câu hỏi của các môn đệ đầu tiên với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” (Ga 1,38) cùng vang lên cách đặc biệt mang nhiều ý nghĩa).

-       Nhà là nơi mà con người bắt đầu xác định bản thân, trải nghiệm những ranh giới và những bước chuyển tiếp. Nhà biểu thị cho sự giao động giữa “phía trong” và “phía ngoài”, “bên trong” và “bên ngoài”, giữa “công” và “tư”. Nhà tạo ra sự khác biệt mà không có ranh giới cứng ngắc. Thật vậy, ngôi nhà tạo thành một lối đi, một mối liên hệ giữa vào và ra, ở lại bên trong và đi ra ngoài, giữa môi trường gia đình và môi trường xã hội.

-       Trong nhà, có thể học được sự trật tự và sự hài hòa, các quy tắc ứng xử, thước đo đúng đắn, ý thức sống và hành động phù hợp. Ngôi nhà là một không gian nhân bản.

-       Ngôi nhà [theo nghĩa nhà (home) và không chỉ theo nghĩa của căn nhà (house)] mang đến hơi ấm, sự che chở và an toàn, phục hồi sự mệt mỏi, chữa lành vết thương: nhà là nơi người ta mong đợi, nơi có mâm cơm ấm và ngọn đèn thắp sáng khi người ta về muộn.

-       Nhà là nơi sinh sống, nơi hình thành thói quen (habitus da habitat), là nơi diễn ra các “nghi thức” và “quy tắc” chung sống của con người, được mở rộng sang các lĩnh vực khác: cộng đồng, xã hội, quê hương, thế giới.

-       Ngôi nhà qui tụ và tiếp nhận; nó che chở, bảo vệ, thúc đẩy sự thân mật và đồng thời tiếp đón, mở ra cánh cửa cho những điều mới mẻ, xa lạ, bất ngờ.

-       Nhà là nơi hình thành nhân cách (với sự bố trí của các đối tượng, màu sắc, v.v…) để cảm thấy là của riêng mình. Theo cách này, nó trở thành nơi thể hiện bản thân, nơi kể lại câu chuyện của chính mình, nơi người ta có thể hạ thấp sự phòng thủ, lột bỏ mặt nạ thanh cao để chỉ đơn giản là chính mình.

-       “Cảm thấy như ở nhà” có nghĩa là cảm thấy thoải mái, mình là một phần của môi trường gia đình, cảm nhận mình được chào đón và yêu thương.

-       Con người không thể sống trên trái đất với hòa bình, niềm vui và sự sáng tạo nếu người ấy không cắm rễ sâu vào hơi ấm của ngôi nhà, đồng thời giữ cho cửa ra vào và cửa sổ luôn mở.

-       “Đổi nhà” có thể là một thách thức, bởi vì nó ngụ ý nói về sự rời đi, chia lìa, từ bỏ (hãy nghĩ đến lời kêu gọi của Áp-ra-ham và của các môn đệ Chúa Giê-su) và nói về một nơi ở mới của bản thân trong những không gian mới ít được biết đến, mặc dù điều đó cũng có thể là cơ hội để đổi mới, để lớn lên.

-       Nhà là không gian ta mang trong mình, nó mang hình thái của ký ức, khát vọng, lý tưởng, ước mơ nằm yên trong lòng ta, nó sẵn sàng sáng lên trong tâm trí khi nghe thấy hạn từ “nhà”, khi nhìn thoáng qua một cử chỉ, khi xuất hiện một ý nghĩ.

2.  Cảm thấy nhưở nhà trong thế giới thời tuổi thơ

Một truyền thuyết trong văn học Do Thái kể rằng, khi Thiên Chúa quyết định tạo ra thế giới, 22 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Do Thái đã vây quanh Người và lần lượt cầu xin rằng: “Hãy tạo ra thế giới bằng cách sử dụng tôi!”. Và mỗi bên đều đưa ra những lập luận thuyết phục có lợi cho mình. Cuối cùng Chúa đã chọn chữ b (bet ב ). Thực vậy, từ đầu tiên chúng ta gặp trong chương đầu tiên của sách Sáng Thế là chữ bereshit (khởi đầu), trong khi Kinh Thánh bắt đầu bằng chữ cái ב, có hình đồ họa của một ngôi nhà, đóng kín trên, dưới và ba mặt, nhưng mặt thứ tư mở ra, giống như một cánh cửa lớn rộng mở nhìn ra dòng đời.

Đó chỉ là một truyền thuyết, nhưng thật tuyệt khi nghĩ rằng Thiên Chúa muốn tạo ra thế giới như một ngôi nhà cho tất cả các sinh vật của mình. Thế giới là “ngôi nhà chung” cho toàn thể nhân loại, dưới cùng một bầu trời và được cùng một người Cha yêu thương. Đó là “vùng đất được thừa kế” (x. Mt 5,5), một ngôi nhà được tổ tiên chúng ta coi như báu vật. Vì lý do này, chúng ta muốn cung cấp nó cho hậu thế của chúng ta sự sạch sẽ, ngăn nắp, đẹp đẽ, phong phú được tạo nên bởi cuộc sống của chúng ta.

Kinh Thánh có những mô tả rất gợi hứng về Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ một cách vui vẻ, quảng đại, thích thú, gần như “vui chơi” và “ăn mừng”: Người trải các tầng trời ra như một cái lều (Tv103), khiến tuyết rơi như lông cừu, làm tan băng giá như bụi, ném mưa đá như vụn (Tv 147), giăng bạt che nắng và cho nắng ra ngoài như chàng rể rời phòng tân hôn (Tv 19). Người đo nước bằng lòng bàn tay và đo bụi đất bằng một cái thùng; tính toán phạm vi của bầu trời bằng lòng bàn tay của bạn và cân các ngọn núi bằng cân (Is 40,12). Người cho Biển khép lại giữa hai cánh cửa, biển chặn sóng bằng chốt (G 38,10); Người nhuộm trái đất với màu sắc như thể nó là một chiếc váy; Người nắm lấy các cạnh của trái đất để rũ bỏ kẻ ác (G 38, 13-14). Kinh thánh mô tả đặc biệt hay về các ngôi sao: “Các tinh tú, mỗi ngôi ở vị trí mình, tưng bừng chiếu sáng. Người gọi chúng, chúng thưa: Có mặt và hân hoan chiếu sáng mừng Đấng tạo nên mình” (Br 3,34-35).

Trong trình thuật sáng tạo đầu tiên vào sáu ngày, cuối mỗi ngày, tác giả lặp lại thành ngữ: “Và Chúa thấy rằng mọi sự đều tốt đẹp” (St 1,4.12.18.21.25). Cần lưu ý rằng từ Do Thái “tov” có ý nghĩa là “Tốt” – “Đẹp” và sau khi tạo ra con người, từ tov được diễn tả dưới dạng so sánh hơn nhất: “Đức Chúa thấy rằng nó rất tốt” (c.31). Tác giả của Thánh Vịnh 104, sau khi mô tả vẻ đẹp của sự sáng tạo, đã thốt lên: “Vinh hiển Chúa, nguyện muôn năm tồn tại, công trình Chúa làm Chúa được hân hoan” (Tv 104,31). Tác giả tưởng tượng Thiên Chúa như một nghệ sĩ đang chiêm ngưỡng các tác phẩm của mình một cách hài lòng và trái tim Người tràn ngập niềm vui.

Thế giới “tốt và đẹp” phải là nơi sinh sống của cái đẹp. Món quà của tình yêu phải được giữ bằng tình yêu. “Sự thánh thiêng” của thế giới buộc cư dân của nó phải sống trong sự chính trực và thánh thiện của cuộc sống. Hành vi xấu của con người có thể làm ô nhiễm, báng bổ, tàn tạ, hủy hoại tạo vật. Về vấn đề này, Thiên Chúa cảnh cáo dân Người: “(Các) ngươi sẽ không gây ô nhục cho đất (các) ngươi ở, cũng là nơi Ta ngự” (Ds 35,34). Trong câu chuyện Cựu Ước, khi con người phạm tội, thiên nhiên phải gánh chịu hậu quả, qua việc gây ra sự thay đổi trong chính nó, theo đó đồng cỏ xanh tươi trở thành sa mạc, cây cối không sinh trái, sông ngòi khô cạn, hoặc trở thành công cụ mà Đức Chúa sử dụng để trừng phạt và thanh tẩy, chẳng hạn như qua trận lụt, hoặc trận hỏa hoạn ở Sô-đôm.

Tất cả chúng ta đều sống trong “ngôi nhà chung” này, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng sống giống như nhau. Có những người sống ở đó với não trạng tiêu thụ hay bóc lột, có những người với tâm hồn hẹp hòi hay với thái độ của một người tôi tớ, như người con cả trong dụ ngôn người cha nhân từ. Mặt khác, có những người sống như một đứa trẻ, với niềm vui và sự tin tưởng (ở đây ngụ ý phó thác), cảm thấy ở nhà như ở bất cứ nơi nào trên thế giới mà Thiên Chúa muốn, hạnh phúc khi có thể cho đi một cái gì đó của mình để làm phong phú và tôn lên vẻ đẹp của ngôi nhà này.  

3.  Tin Mừng mang tính gia đình

Hình ảnh Chúa Giê-su được các thánh sử lưu truyền không phải là hình ảnh ở lâu trong đền đài hay chốn linh thiêng, mà là hình ảnh của một người tham dự vào đời thường: đường phố, đồng ruộng, ao hồ, nhà cửa; ngôi nhà nơi ăn mừng hay than khóc, ngôi nhà của bạn bè hay đối thủ, ngôi nhà nơi dạy dỗ, chữa lành, mang lại hy vọng và cuộc sống mới. Hơn 40 trình thuật của Tin Mừng nói đến sự xuất hiện hoặc sự hiện diện của Chúa Giê-su trong một ngôi nhà. 767 Nhiều chi tiết cụ thể của ngôi nhà được làm nổi bật: mái nhà, hiên nhà, phòng trong, nhà bếp, phòng khách, ngưỡng cửa, cửa, sân, bàn, giường, đèn và tia sáng, đĩa và ly, v.v...

Chúng ta cùng đi theo dòng tường thuật của Lu-ca. Việc làm sáng tỏ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa bắt đầu với hai trình thuật song song: thiên thần Gap-ri-en loan báo việc Gio-an chào đời cho tư tế Da-ca-ri-a trong đền thờ (Lc 1,5-25) và cũng chính vị thiên thần này loan báo việc Chúa Giê-su giáng sinh cho Đức Maria tại Na-da-rét, trong nhà của ngài (1,26-38). Kết luận của hai câu chuyện: Da-ca-ri-a bối rối bước ra, khép mình trong im lặng, không thể giao tiếp. Ngược lại, Đức Maria rời bỏ ngôi nhà của mình để biến mình thành một đền thờ sống động, hòm bia giao ước, sự hiện diện minh nhiên của Thiên Chúa giữa loài người. Kể từ đó, sự cân bằng giữa đường nét của ngôi đền và của ngôi nhà nghiêng hẳn về phía ngôi nhà. Lu-ca tiếp tục theo chân Đức Maria khi Mẹ vội vã lên đường đến nhà ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, để rồi Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, bắt đầu sứ vụ của mình với việc “vào nhà”; và như thế, Người đi vào đời sống hàng ngày của con người. Điều mà sau này chính Người sẽ nói với Gia-kêu, “hôm nay tôi phải đến nhà ông” (Lc 19,5) giờ đây đã trở thành hiện thực trong trình thuật này. Từ giờ về sau, biến ngôi nhà thành nơi gặp gỡ, biến đổi, cứu độ; thành một nét đặc trưng trong phong cách của Chúa Giê-su. Cả ngôn ngữ của Người cũng mang âm hưởng gia đình: trong các dụ ngôn Người nói về việc xây nhà trên đất, đá, cũng như trộn bột, thắp đèn, nêm thức ăn bằng muối, bỏ rượu vào bầu da, vá quần áo, khóa chặt nhà để chống trộm, v.v…

Từ sự chú ý đầy tinh tế này đến các “đồ dùng trong nhà”, có thể suy ra rằng Chúa Giê-su đã học được điều đó tại nhà của Người ở Na-da-rét, nguồn gốc kinh nghiệm của Người. Trong chuyến viếng thăm Na-da-rét, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI để lại cho chúng ta suy tư tuyệt đẹp này:

 “Ngôi nhà ở Na-da-rét là trường học, nơi đó cuộc đời của Chúa Giê-su bắt đầu được hiểu, nghĩa là trường học của Tin Mừng. Nơi đây người ta học cách quan sát, lắng nghe, suy niệm, thâm nhập ý nghĩa sâu xa và mầu nhiệm của những biểu hiện đơn sơ, khiêm tốn và đẹp đẽ này của Con Thiên Chúa. [...] Nơi đây, chúng ta học phương pháp cho phép chúng ta biết Đức Ki-tô là ai. Nơi đây, chúng ta khám phá ra sự cần thiết phải quan sát bức tranh về việc Người cư ngụ giữa chúng ta: đó là địa điểm, thời gian, phong tục, ngôn ngữ, nghi thức thiêng liêng. Tóm lại, tất cả những gì Chúa Giê-su dùng để tỏ mình ra cho thế giới”. 768

 Không chỉ trong cuộc đời của Chúa Giê-su, mà cả trong Giáo hội sơ khai, ngôi nhà có một tầm quan trọng đáng kể. Sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần, sự ra đời của Giáo hội, diễn ra trong ngôi nhà ở Giê-ru-sa-lem, trên tầng cao (Cv 1,12-14; 2,1-4). Cộng đoàn quy tụ cầu nguyện trong các nhà, việc rao giảng của các tông đồ bắt đầu từ trong nhà. Ngôi nhà, môi trường của đời sống thường nhật, trở thành cửa mở hướng tới trời cao và hướng về trần gian, thành không gian hiệp thông và chia sẻ giữa các Ki-tô hữu. Nhiều cuộc hoán cải đã diễn ra trong nhà, chẳng hạn như sự cải đạo của Cor-nê-ri-ô và gia đình ông nhờ Phê-rô (Cv 10), hay như của Ly-đi-a nhờ sứ mệnh của Phao-lô ở Phi-líp (Cv 16,14-15). Hình ảnh ngôi nhà cũng được tái hiện nơi thư của thánh Phao-lô, nhất là trong thư gửi tín hữu Ê-phê-sô, nói về “bức tường bị đánh sập”, “việc chỉnh sửa”, “việc xây dựng” “nền móng”.  “Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su” (Ep 2,19-20).  

4.  Đổ đầy nhà bằng hương thơm

Thánh sử Gio-an cho chúng ta chi tiết rất hay và có ý nghĩa này trong trình thuật về việc xức dầu ở Bê-ta-ni-a: “Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm” (Ga 12,3). Đối với Giu-đa, người lấy lý do là nhu cầu của người nghèo, phàn nàn về quá nhiều lãng phí, Chúa Giê-su đã đứng về phía người phụ nữ và trả lời: “Hãy để cô ấy yên!” (Ga 12,7).

Nước hoa ở Bê-ta-ni-a, cũng như rượu ở Ca-na, không nhất thiết phải có, nó là thứ “thêm vào” để làm cho cuộc sống tươi đẹp, nó là “sự dư thừa của nhưng không”, vượt lên trên mọi cân nhắc vụ lợi, như Đức Gio-an Phao-lô II đã nhận xét trong Tông huấn Đời sống thánh hiến (s.104). Nước hoa được “đổ” không tiếc. Đó là biểu hiện của tình yêu trong sáng, của sự cho đi không tính toán. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người được đặt trên mức độ dư thừa và thặng dư này. Thiên Chúa đối thoại với con người trong không gian rộng lớn của cái đẹp và tình yêu, chứ không phải trong sự chật hẹp của quyền lợi và bổn phận, hay chức năng tức thời. Người lấp đầy các thụ tạo bằng  sự sung mãn của Người (Ep 3,19), ban cho họ “hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16) và “cuộc sống dư dật” (Gv 10.10). Logic không phải là “điều tối thiểu không thể thiếu”, mà là “điều tối đa có thể”.

Mùi hương nhẹ nhàng, xuyên thấu, lan tỏa và tràn ngập khắp căn nhà một cách tinh tế, nhưng không thể không cảm nhận được. Con người đích thực không chỉ sống bằng cơm bánh và tiền bạc, mà còn sống bằng hoa, thơ ca, sự nâng cao tinh thần và thẩm mỹ, niềm vui sống, lễ hội, vũ điệu, trò chơi, bài hát, câu chuyện, những hình ảnh và biểu tượng, quà tặng, sự nhưng không, tận hưởng những điều giản dị và chân thật; vẻ đẹp, chiêm nghiệm, sự ngạc nhiên, những giấc mơ,  sự tưởng tượng, hài hước. Thiên Chúa muốn cho con cái mình hạnh phúc. Ngôi nhà của Thiên Chúa và Giáo hội được tô điểm và trở nên hấp dẫn khi nó tràn ngập hương thơm, cũng như thế đối với mọi cộng đoàn Ki-tô hữu, hơn thế nữa, đối với mọi cộng đoàn tu trì, mọi cộng đoàn Sa-lê-diêng.

5.  Những ngôi nhà của các FMA đầu tiên

Truyền thống  Sa-lê-diêng có từ thời các Đấng sáng lập luôn gọi các cộng đoàn là “nhà”, nơi “tinh thần gia đình” được sống. Maria D. Mazzarello đã gửi các lá thư đầu tiên rõ ràng từ “Nhà Đức Mẹ Phù Hộ các giáo hữu, Mornese” (Thư số 1-5). Mẹ đưa “tin về nhà” cho các giám đốc và cho các chị em trong các nhà khác hoặc các nhà của Châu Mỹ xa xôi. Trong suy nghĩ của Mẹ, cộng đoàn tu trì phải là một ngôi nhà có Chúa Giê-su là “ông chủ tối cao”, 769 còn Thánh Giu-se là “người quản gia và người bảo vệ đặc biệt”, 770 Mẹ Maria Phù Hộ là “Bề trên thực sự”, còn Mẹ chỉ là người phụ tá. Vì lý do này, Mẹ thường đặt chìa khóa của nhà Mornese dưới chân tượng Đức Mẹ vào mỗi tối và Mẹ không ngần ngại gọi ngôi nhà đầu tiên của các FMA là “nhà của Đức Maria” (Thư số 5,6). Đây là những đặc nét không chỉ của Mornese, mà của tất cả các nhà của các FMA, trong đó nhà Mornese là khuôn mẫu và gương mẫu. Thực vậy, khi cộng đoàn được chuyển đến Nizza Monferrato, Mẹ Mazzarello vẫn xác định là “ngôi nhà thánh này” khi nói đến cộng đoàn (Thư số 30,3), bởi vì nó thể hiện cùng một tinh thần, cùng một phong cách sống và sự thánh thiện được sống ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, nơi đâu các “nhà” của FMA được thành lập. Mẹ viết thư cho các nữ tu truyền giáo ở Argentina: “Nếu các con muốn luôn duy trì tinh thần của Hội dòng thân yêu của chúng ta thì điều được thực hiện trong một nhà cũng hãy làm trong các nhà khác” (Thư số 29,3).

Tất nhiên, Maria Domenica tiếp tục dành tình cảm đặc biệt cho ngôi nhà Mornese, mà Mẹ gọi một cách dịu dàng là “tổ ấm” (Thư số 6,9,10; 13,1) mà những con chim đã bay đi rất lâu trở về, hoặc chỉ để thăm lại. Bản thân Mẹ nghĩ về Mornese với nỗi nhớ nhung và không giấu đi nỗi đau khi phải “đóng cửa nhà”. Từ Nizza Monferrato, Mẹ viết:  “Nhà ở Mornese giờ đây đã rút đi hoàn toàn […] Tội nghiệp ngôi nhà! Chúng ta không thể nghĩ tới nó mà không cảm thấy như có một gai nhọn đâm trong lòng” (Thư số 37,9).

Với cùng một cường độ và tình cảm như nhau, Mẹ nói về “ngôi nhà trên trời” và đau khổ nhìn thấy các thành viên trong ngôi nhà đó đang tăng lên cách nhanh chóng như thế nào. Mẹ viết thư gửi Cha Gioan Cagliero: “Một lần nữa con lại phải loan tin chết chóc cho cha hay! Cha hãy thứ lỗi cho con, nhưng biết làm sao được? Thiên Chúa muốn làm đầy nhà Thiên đàng của Ngài” (Thư số 6,4). Và khi thông báo cho cha Cagliero về những ngôi nhà mới đã mở cửa, Mẹ nói với một chút hài hước: “Con quên không nói với cha là chúng con còn một nhà nữa trên Thiên đàng, nhà này lúc nào cũng mở cửa. Vị Giám đốc của nhà này chẳng cần biết đến Bề trên lẫn các cố vấn, người muốn chọn ai tùy ý” (Thư số 7,3). Sau đó, Mẹ đã viết cho cha rằng Mẹ muốn tự mình bước vào “ngôi nhà thú vị đó” (Thư số 9,9). Lo sợ cho tính mạng của Sơ Elisa Roncallo đang bị bệnh nặng, Mẹ nói: “Xem ra Chúa Giê-su cần chị ấy chịu trách nhiệm nhà trên trời và con sợ chúng con phải để chị ra đi chấp nhận Thánh ý Chúa” (Thư số 7,6). Trong các nguồn tường thuật, chúng ta tìm thấy những bằng chứng tuyệt vời về bầu khí thiêng liêng của ngôi nhà Mornese. Cha Costamagna, linh hướng của cộng đoàn, sau đó đã rời đi với tư cách là một nhà truyền giáo ở Mỹ, đã luôn xúc động nhớ về ba năm cha đã trải qua trong “ngôi nhà thánh của Mornese”, nơi mà Mẹ hân hoan gọi đó là “ngôi nhà của niềm vui thánh thiện”,771 “ngôi nhà của tình yêu Thiên Chúa”.772 Mornese sẽ luôn là hình mẫu cho mọi cộng đoàn FMA: một “ngôi nhà”, một “nơi ở”, một không gian cho tình yêu “ngự trị”, nơi con người sống trong tình yêu của Thiên Chúa, nơi đón nhận, cho đi, cảm nghiệm và tỏa chiếu tình yêu. Theo nghĩa này, khoản Hiến luật 62 FMA mời gọi hãy “làm cho cộng đoàn của chúng ta trở thành ngôi nhà của tình yêu Thiên Chúa”. Ngôi nhà Mornese tràn ngập sự hiện diện của Chúa và tình yêu của Người, không có thời gian rõ ràng và cố định để cầu nguyện, nhưng việc cầu nguyện không bao giờ bị gián đoạn, bởi vì cả cuộc đời của mọi người được dành cho sự hiện diện của Chúa.

“Ở trong ngôi nhà đó thực sự đã là lời ca ngợi vĩnh cửu”.773 “Đó luôn là ngôi nhà của lòng nhiệt thành, lòng nhiệt thành đối với việc cứu rỗi các linh hồn, của tinh thần hy sinh, của sự vâng lời xác đáng, của sự thinh lặng thánh thiện và của sự đơn sơ và vui vẻ như thiên thần”. 774 Bầu khí này được chính các nữ tu tái khẳng định. Sơ Enrichetta Sorbone làm chứng rằng: trong ngôi nhà đầu tiên có “sự vâng lời tuyệt vời, sự đơn sơ, tuân giữ xác đáng đối với Qui luật Thánh; sống chiều sâu và sự thinh lặng đáng khâm phục; tinh thần cầu nguyện và hãm mình; thẳng thắn và đơn sơ; tình huynh đệ trong cách ứng xử và trò chuyện, với niềm vui thánh thiện đến mức khiến ngôi nhà trở thành môi trường của Thiên đàng”.775

Hội dòng đã cử hành Tổng Tu Nghị vào năm 2013 với chủ đề: “Hôm nay, cùng với những người trẻ - trở nên ngôi nhà loan báo Tin Mừng”, trong đó nêu bật giá trị cốt lõi và mang tính ngôn sứ của “ngôi nhà Mornese”. Ngoài việc nhắc lại các đặc điểm của “ngôi nhà” trong truyền thống Sa-lê-diêng như không gian loan báo Chúa Giê-su, môi trường gia đình, bầu khí đồng trách nhiệm giúp con người phát triển, phòng thí nghiệm hiệp thông theo phong cách của Hệ thống Dự phòng, còn nhấn mạnh đến chân trời rộng lớn và sự cởi mở truyền giáo của “ngôi nhà” đầu tiên đó: “Mornese là ngôi nhà mở ra với thế giới, nơi người ta hít thở năng động lực loan báo Tin Mừng để làm chứng về Chúa Giê-su cho những người chưa biết Chúa”.776


Chú thích

767 Trong khi có khoảng 20 lần Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giêsu vào hội đường và khoảng 15 lần vào đền thờ.

768 Paolo VI, Omelia nella Basilica dell’Annunciazione in Nazaret, 5 gennaio 1964.

769 Hồi sử II 115.

770 Hồi sử III 301.

771 Đc Conferenza di Don Giacomo Costamagna alle FMA [sulla comunità di Mornese], Santiago 24-5-1900, trong Orme di vita 347.

772 Đc Maccono I 306; Đc thư của Mẹ Mazzarello, 19-11-1877, trong Orme di vita D 82 và lettera alla comunità di Mornese, 29-1-1878, trong nt D 86.

773 Đc Nt 346.

774 Valentini Eugenio (biên tập), Mons. Giacomo Costamagna, Scritti di vita e di spiritualità salesiana, Roma, LAS 1979, 204 . La testimonianza è riportata all’inizio dei Regolamenti delle Figlie di Maria Ausiliatrice, trong Costituzioni, 148.

775 Lời chứng được đưa vào ở phần đầu của Qui luật Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, với tiêu đề “Tinh thần cội nguồn được sống ở Mornese”, trong Hiến Luật, 147.

776 Reungoat Yvonne, Thư triệu tập Tổng tu nghị XXIII, Roma, ngày 11 tháng 2 năm 2013.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026