FMA Logo

7. Những con đường mòn



Đường mòn - không phải là những con đường lưu thông lớn của thành phố hay đường cao tốc có chỉ dẫn rõ ràng, không phải là đường lớn được đánh dấu trên bản đồ hoặc mang tên những người nổi tiếng, gợi lại các sự kiện lịch sử, mà là những con đường mòn không xuất hiện trong các bản vẽ địa hình chi tiết và thậm chí cũng không xuất hiện trong hệ thống định vị (GPS) tinh vi nhất. Đó là những con đường mòn không mang tên gọi nổi danh, trái lại, chúng thường không có tên. Những con đường mòn không ai biết điểm khởi đầu từ đâu và dẫn đi đến đâu: đó là những con đường mòn của vùng nông thôn, của những thị trấn nhỏ như Mornese.

Những con đường mòn gắn với một loạt tính từ: thẳng, quanh co, hẹp, chật, khuất, sáng, tối, v.v… hoặc một số động từ như: bước đi, tìm kiếm, khám phá, theo dõi, du hành, lạc lối, khai phá, lùng sục, lang thang, v.v…

Nhiều nhân vật trong Kinh Thánh, bắt đầu với Áp-ra-ham, Môi-sê, Ê-li-a trong số các tiên tri, Rút trong số những người phụ nữ, đã đi qua những con đường lớn và những đường mòn dài để đến những nơi xa xôi, hoặc trở về quê hương của tổ tiên họ. Họ ở trong ngôi nhà mà chẳng qua là cái lều tạm thời. Thông qua lối sống du mục, họ tạm ổn định cuộc sống, trải nghiệm những điểm dừng ngắn ở nhiều nơi khác nhau. Thực vậy, đây là hành trình đặc trưng cho toàn bộ lịch sử của dân Ít-ra-en.

Ngay cả cuộc đời của Chúa Giê-su cũng được đánh dấu bằng sự linh động. Người sinh ra trên đường, từ nhỏ Người đã phải lên đường đi tị nạn ở nước ngoài, Người đã chết ngoài trời, ở độ cao của một đường thập giá. Trong thời gian ngắn thi hành sứ vụ công khai của mình, “Người đã đi qua tất cả các thành phố và làng mạc” (Mc 9,35).

Bản thân Người là “Đường” (Ga 14,6) và những người đi theo Người được gọi là “người theo Đạo” (Cv 9,2).

Tương tự như vậy, Đức Maria, Mẹ của Người, thường tìm thấy Mẹ trên đường. Những di chuyển địa lý thường xuyên của Đức Maria: Na-da-rét, Ein Ka-rem, Bê-lêm, Giê-ru-sa-lem, Ai Cập, v.v… được đồng hành với một chuyển động nội tâm mãnh liệt hơn cả. Cả cuộc đời của Đức Maria là một cuộc hành trình, một cuộc “hành hương của đức tin”.777 Mẹ Maria cũng là con đường - dẫn đến Đức Ki-tô, con đường dẫn đến “con Đường thật” và Mẹ cũng là Odighitria - người chỉ đường.

Nhiều dữ liệu Kinh Thánh có tầm nhìn vĩ mô về vấn đề này. Chúng tôi muốn sự chú ý không tập trung quá nhiều vào ý nghĩa thực sự của đường phố và đường mòn, mà là ý nghĩa tượng trưng của chúng. Trong viễn cảnh này, chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào một số điểm, mà dường như đặc biệt soi sáng cho chúng ta khi đề cập đến các con đường mòn của Mornese.

1.       Giá trị biểu tượng của các con đường mòn trong Kinh Thánh  

-  Những lối đường của Chúa

Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con” (Tv25,4). Lời kêu xin này hoặc những lời kêu xin khác tương tự, xuất hiện thường xuyên trong các Thánh Vịnh. Những “con đường” hay “lối đường” của Chúa chỉ ra cách Chúa hành động trong lịch sử: chúng tiết lộ những chương trình hoặc kế hoạch nhất định về con người, thường thì nó rất nhiệm mầu và kín ẩn, vượt xa sự hiểu biết. Thánh Vịnh 77 sử dụng một hình ảnh rất gợi hứng để mô tả sự khó hiểu trong những lối đường của Thiên Chúa: chúng giống như những bước chân trên mặt nước, không để lại dấu vết hay dấu chân . “Đường của Chúa băng qua biển rộng, lối của Ngài rẽ nước mênh mông, mà chẳng ai nhận thấy vết chân Ngài” (Tv77,20). Ai đi theo đường lối của Chúa, thì như Phê-rô bỏ con thuyền đầy an toàn để ném mình vào biển cả mênh mông, chỉ tin tưởng vào Chúa Giê-su, Đấng từ xa vẫy gọi ông và nói: “Đến đây nào!” (Mt 14,29).

Văn chương tiên tri thường nhấn mạnh đến việc không thể hiểu được Thiên Chúa trong những đường lối nhiệm mầu của Người, con người cũng không thể đòi hỏi những món quà mà Người ban tặng một cách tự do. Đây là điều Thiên Chúa phán trong lời sấm được tiên tri I-sai-a công bố: “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,8-9). Những lời này sẽ tìm thấy một tiếng vang mạnh mẽ trong câu cảm thán của Phao-lô, trong nhiều thế kỷ sau và trong những hoàn cảnh khác nhau: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được !” (Rm 11,33).

Kể cả nếu đường lối của Chúa có nhiệm màu, thì nó cũng không luôn được nhận ra cách rõ ràng và dễ dàng đi theo; đường lối của Chúa luôn là để cứu rỗi con người: “Tất cả đường lối Chúa đều là yêu thương và thành tín” (Tv 25,10). Thông thường, sau khi đi theo những con đường được cho là tự mình vạch ra, con người thấy mình mất phương hướng, bối rối, ý thức rõ hơn về những giới hạn của mình và cần đến sự hướng dẫn của Chúa.

-  Lựa chọn những lối đường của cuộc sống

Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16,11). Phần kết của bài Thánh Vịnh tuyệt vời này giải thích cảm xúc của tất cả những ai đặt niềm tin cậy nơi Chúa. Các lối đường có thể quanh co, nhưng chúng được Chúa chỉ vẽ và dẫn đưa đến sự sống. Chúng ta có thể tìm thấy chúng nơi tạo vật, nơi kinh nghiệm của các bậc tiền nhân, nơi Lời mặc khải, nơi trí thông minh của con người, nơi các biến cố lịch sử và nơi đời thường, v.v... Tuy nhiên, “có những chỉ dẫn” và “sự hiểu biết” về các lối đường của Chúa thôi thì chưa đủ: chúng ta phải đặt mình vào cuộc hành trình.

Đây Ta đưa ra cho các ngươi chọn: hoặc con đường đưa tới sự sống, hoặc con đường đưa tới sự chết” (Gr 21,8). Chủ đề về hai con đường đối lập - con đường sự sống và con đường sự chết, con đường của người công chính và con đường của kẻ bất lương - thường xuyên được nhắc đến trong Kinh Thánh (x.Đnl 30,12-20; Tv 1; Cn 4,18-19). Chủ đề này cũng được chính Chúa Giê-su đưa ra trong “Các Bài giảng trên núi”, qua đó Ngài sử dụng hình ảnh cánh cửa và con đường: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy!” (Mt 7,13-14). Đức tin Ki-tô giáo không phải là sở hữu một mớ lý thuyết, nó bao hàm một nỗ lực toàn diện và năng động: sự khôn ngoan để phân định, tự do lựa chọn và từ bỏ, can đảm quyết định và sống nhất quán, sáng tạo trong việc lớn lên và trung thành kiên trì với mục tiêu cho tới cùng.

 -  Những lối đường được vạch ra và lối đường mới

Những con đường mòn được tạo nên từ các bước chân. Mọi người sinh ra đều tự thích hợp với những con đường đã được người khác vạch ra, sau đó, qua việc bước đi, tạo ra những con đường mới. Chúa Giê-su cũng không ngoại lệ. Theo cách riêng của mỗi người, các thánh sử đều nhấn mạnh đến các biến cố chứng tỏ tính hiện thực của việc hội nhập. Đặc biệt, ở đầu Tin Mừng, thánh sử Mát-thêu cho thấy Chúa Giê-su đã đi ngược lại tất cả các giai đoạn cơ bản trong cuộc hành trình của dân Người: đi xuống Ai Cập, mối đe dọa sẽ chết bởi quyền lực, trở về quê hương, hành trình sa mạc. Chúa Giê-su được trình bày như một người con đích thực của Ít-ra-en, như một người liên đới với bối cảnh lịch sử, tháp nhập vào thời đại, mặc lấy một truyền thống, gắn liền với kinh nghiệm, kế thừa một di sản văn hóa.

Người không chỉ đi ngược lại dấu chân của tổ tiên về mặt vật chất, mà còn biến tinh thần của mình thành tinh thần hướng dẫn hành trình của họ: đi theo lối đường của Thiên Chúa bằng cách làm theo ý muốn của Chúa. Chúa Giê-su thu gom quá khứ và khởi động lại nó hướng tới tương lai theo một cách chưa từng xảy ra. Người thực hiện tất cả những lời Thiên Chúa đã hứa với dân tộc Ít-ra-en, đồng thời vượt xa chúng một cách đáng ngạc nhiên. Người lọt vào danh mục những nhân vật vĩ đại nhất của Cựu Ước và vượt lên trên họ. Người vừa là “con Vua Đa-vít” và cùng một lúc là “Đức Chúa của Đa-vít” (Mt 22,41-45). Người “hơn cả một nhà tiên tri” (Lc 7,26), hơn cả các thầy dạy và các kinh sư, vì Người “giảng dạy với uy quyền” (Mt 7,28), hơn cả Môi-sê, vì Người đã đến “để kiện toàn lề luật” (Mt 5,17) và là “Chúa của ngày Sa-bát” (Mt 12,8). Người “vĩ đại hơn Vua Sa-lô-môn”, “lớn hơn ông Giô-na” (Lc 11, 31-32). Với tư cách là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người, Người vượt trội hơn bất kỳ linh mục nào khác, đến nỗi Người được định nghĩa là “một vị Thượng Tế siêu phàm” (Hr 4,14).

Chúa Giê-su, khi bước đi đã mở ra những con đường mới, thoát khỏi mạng lưới của những ràng buộc an toàn để phơi mình ra trước sự bất ổn và bất định, vượt ra ngoài những mối quan hệ được xác định trước bởi nguồn gốc để mở ra cho cái mới và cái phổ quát. Người đi vào những lãnh thổ chưa được biết đến, đồng thời vượt qua ranh giới địa lý, xã hội, tôn giáo và tâm lý. Bằng việc mở ra những con đường mới, Người là người đầu tiên thi hành sứ mạng mà Người sẽ trao phó cho Giáo hội: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).

Chúa Giê-su không đợi người khác đến với Người, nhưng chính Người đi gặp gỡ người khác, Người đi vào các thành phố, làng mạc, nhà cửa, thậm chí tỏ mình ra để bị từ chối (hãy nghĩ đến làng của những người Sa-ma-ri không tiếp đón Người: Lc 9,52-55), Người luôn phải đối mặt với những tình huống mới và khó lường. Hành trình của Người tiếp chạm đến lối đường của mọi người, bắt gặp họ ở nơi họ hiện diện: trên thuyền đánh cá (các môn đệ đầu tiên: Mt 1,16-20), trên cây đang tò mò quan sát (Da-kêu: Lc 19,1-10), tại nhà của họ (Mác-ta và Ma-ri-a: Lc 10,38-42). Người đi tìm niềm tin nơi người khác không tin là có, như nơi người phụ nữ bị băng huyết (Mc 7,24-30), nơi viên đại đội trưởng (Mt 8,5-13). Người tiếp đón tất cả mọi người và khuyến khích mọi người phát triển tiềm năng của chính họ vì thiện ích. Bằng cách này, Người “đi tới đâu là thi ân giáng phúc tới đó” cho mọi người (Cv 10,38). Đối với Người, mọi bối cảnh của cuộc sống con người đều là một nơi mà Tin Mừng có thể thâm nhập, mọi lối đường dẫn đến cuộc gặp gỡ đều là con đường cứu độ. Đây là lý do tại sao Đức Thánh Cha Phan-xi-cô có thể khẳng định: “Là môn đệ có nghĩa là luôn sẵn sàng mang tình yêu của Chúa Giê-su đến cho người khác và điều này xảy ra một cách tự phát ở bất cứ nơi đâu, trên đường phố, quảng trường, công sở, trên đường đi” (EG 127).

2.       Con đường mòn ở Mornese

Một trong những đặc điểm của thôn Mornese là những con đường mòn, bên trong và xung quanh ngôi làng. Những con đường mòn giữa các nhà, con đường mòn rộng hơn để chia cắt các xóm (“Mazzarelli đây”, “Mazzarelli kia”), những con đường không có tên gọi nổi tiếng (như đường vườn rau) hoặc không có tên. Maria Mazzarello biết rõ về chúng. Một con đường mòn thân quen nhất với Thánh nữ trong những năm Thánh nữ sống ở trang trại Valponasca là con đường dẫn từ ngọn đồi xuống làng. Maria Domenica đi bộ qua nó mỗi sáng trước khi mặt trời mọc. Đây là con đường mòn mà cho đến ngày nay vẫn minh chứng cho niềm tin, lòng nhiệt thành, tinh thần mạnh mẽ và ngoan cường của người thiếu nữ. F. Maccono mô tả như sau:

“Con đường dốc đi xuống gò đất, trên đó có ngôi nhà trang trại, băng qua một bãi cỏ nhỏ đầy cây bụi, leo lên và rẽ vào sườn của những gò đất nhỏ trồng nho khác và lúc đi xuống, lúc đi lên, nó dẫn đến đường lớn, không cách thị trấn bao xa. Nếu thời tiết tốt, con đường này có thể đi được mà không gặp khó khăn nghiêm trọng và được sử dụng để tập thể dục một chút; nhưng vào ban đêm, cũng có nguy cơ bị lộn nhào. Nếu lúc đó trời mưa hoặc có tuyết, thì việc đi xuống hoặc leo lên là một kỳ tích đẹp: vải bông dính chặt vào giày, bàn chân trượt chỗ này chỗ kia, loạng choạng và không phải lúc nào cũng kịp thời lấy lại thăng bằng. Giờ đây, đó chắc chắn là một cảnh tượng đáng để các Thiên thần ngưỡng mộ, khi thấy mỗi buổi sáng người thiếu nữ của những cánh đồng này từ bỏ sự nghỉ ngơi và đi bộ trên con đường khó khăn đó, hoặc con đường gần đó để nhanh chóng đi dự Thánh Lễ và rước lễ, trước khi làm việc!”778

Khi Maria Domenica 21 tuổi, gia đình rời Valponasca. Giờ đây, những con đường mòn của thị trấn đã ghi lại bước chân của Thánh nữ, với muôn vàn khúc quanh, kể cả căn bệnh suýt dẫn Thánh nữ đến cái chết, thời gian dưỡng bệnh dài ngày, Thánh nữ nhận ra mình không thể làm việc trên cánh đồng nữa. Sau này, Thánh nữ sẽ đi trên những lối đường dẫn Thánh nữ đến những giai đoạn quyết định nhất của cuộc đời: “thị kiến” nhiệm mầu trên đồi Borgoalto với lời trao phó “Ta giao chúng cho con”, Thánh nữ tâm sự với người bạn Petronilla về ý tưởng mở một phòng may cho các thiếu nữ để dạy chúng may vá và sống đức tin trong cuộc sống hàng ngày. Đây là những sự kiện diễn ra trên những con đường mòn ở Mornese và chúng tiết lộ dần dần kế hoạch của Thiên Chúa dành cho Thánh nữ và sứ mệnh giáo dục của Thánh nữ. Những con đường mòn kết nối nhà của Mẹ với nhà thờ trong một mạng lưới duy nhất, với nhà may, với xưởng nhỏ, với trụ sở của nhóm Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, gợi nhắc về một thời kỳ phân định, nghiên cứu, lo lắng, khắc khoải, năng nổ, về lòng nhiệt thành tông đồ, kinh nghiệm liên đới mạnh mẽ, lựa chọn sống, lớn lên và trưởng thành về nhân bản lẫn thiêng liêng, về sự dễ dạy mở ra với Thần Khí, dưới sự hướng dẫn của những người được Thiên Chúa sai đến để đồng hành với Giáo hội. Cuối cùng, những con đường mòn của thị trấn sát nhập vào con đường dốc dẫn đến một nơi mà Mẹ và những người bạn đồng trang lứa sẽ không bao giờ mơ ước nhưng lại được hiện thực: trường nội trú. Trong tâm trí của Cha Pestarino và Cha Bosco, trường nội trú là một trung tâm giáo dục được dành cho trẻ nam, thay vào đó, do những cách thức đáng ngạc nhiên của Chúa Quan phòng, nó đã trở thành cái nôi của một Dòng tu mới nhằm giáo dục các thanh thiếu nữ. Từ Dòng tu đó, nhiều lối đường sẽ bắt đầu và sẽ đi đến nhiều con đường khác trên thế giới.


Chú thích

777 Đc Lumen Gentium n. 58; Redemptoris Mater n. 2.

778 Maccono Ferdinando, Suor Maria Mazzarello Prima Superiora Generale delle Figlie di Maria Ausiliatrice, Torino, SEI 1924, 30.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026