8. Bàn tay của Thiên Chúa
Ai cũng biết Kinh Thánh thường sử dụng một ngôn ngữ “nhân cách hóa” để diễn tả về Thiên Chúa. Ngôn ngữ này gán các đặc điểm và hành vi của con người cho Thiên Chúa. Nó cũng tìm cách nhấn mạnh đến tính cách nhân loại của Thiên Chúa và sự tham dự của Người vào lịch sử thế giới và vào lịch sử của con người. Chính vì vậy, chúng ta nói về bàn tay, bàn tay phải, cánh tay, cánh tay dang rộng, ngón tay của Chúa. Những phần cơ thể này được dùng như một phép ẩn dụ để chỉ hành động của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, nâng đỡ, phán xét, cứu độ, chúc lành, bảo vệ, tiếp nhận, bày tỏ sự quan tâm và dịu dàng.
1. Bàn tay uy lực và quan phòng
Trong nhiều bản văn Kinh Thánh, bàn tay của Thiên Chúa đã thể hiện quyền năng của mình trong việc tạo dựng và giải phóng Ít-ra-en. Ví dụ:
Chúa phán thế này: “Ta đã tạo ra trái đất và tạo ra con người trên mặt đất; Ta sắp đặt các tầng trời bằng đôi tay của mình” (Is 45,2); “Trời là ngai ta, đất là bệdưới chân ta (...). Tất cả những vật ấy, chính tay Ta đã làm. Tất cả những vật ấy đều là của Ta” (Is 66,1-2).
“Thế nhưng, lạy Đức Chúa, Ngài là Cha chúng con;chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài,chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con” (Is 64,7).
“Nắm trong tay bao vực sâu lòng đất […] lục địa do tay Người nhào nắn cũng thuộc về Người” (Tv 95,4-5).
“Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn. Ngài ban xuống, chúng lượm về, Ngài mở tay, chúng thỏa thuê ơn phước” (Tv 104,27-28).
“Chính tay Ngài đã tạo tác nên con, chẳng lẽ Ngài đổi ý mà hủy diệt?” (G. 10,8).
“Lạy Chúa, tay hữu Ngài đã biểu dương sức mạnh.Tay hữu Ngài, lạy Chúa, đã nghiền nát địch quân” (Xh 15,6).
“Vì đâu có phải nhờ gươm giáo mà họ [tổ phụ chúng ta] chiếm đất đai, đâu phải cánh tay họ đem được thắng lợi về.Nhưng chính là nhờ tay hữu Chúa, tay mạnh mẽ và ánh tôn nhan Ngài, vì Ngài yêu thích họ” (Tv 44,4).
“Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai-cập và Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó” (Đnl 5,15; 4,34).
Bàn tay quyền năng và quan phòng của Thiên Chúa hoạt động trên tất cả mọi dân tộc, cũng như trên các cá nhân. Lịch sử của Nô-ê, của Áp-ra-ham, của Môi-sê, của Đa-vít, của các ngôn sứ đã chứng minh rõ ràng cho điều này. Đôi khi, Thiên Chúa thậm chí còn sử dụng những việc làm xấu xa của con người cho những chương trình của mình, từ đó Người rút ra điều tốt lành. Câu chuyện về tổ phụ Giu-se là một ví dụ: bị các anh bán đi, bị đưa sang Ai Cập và sau những thăng trầm kịch tính, ông trở thành quan thống đốc của nước này. Tất cả điều này đều nhờ sự giúp đỡ của Thiên Chúa: “Đức Chúa ở với cậu và mọi việc cậu làm thì Đức Chúa cho thành công” (St39,3). Sau đó, khi Giu-se tỏ cho anh em biết mình, họ vô cùng sợ hãi. Nhưng ông nói với họ những lời này: “Nhưng bây giờ, các anh đừng buồn phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây: chính là để duy trì sự sống […] Vậy không phải các anh đã gửi tôi đến đây, nhưng là Thiên Chúa” (St 45,5-8). Và khi Thiên Chúa dường như đã ngừng mở rộng bàn tay bảo vệ dân Người, đó không phải là vì quyền năng toàn năng của Người đã thất bại: “Này, không phải Đức Chúa ngắn tay không thể cứu, cũng chẳng phải Người nặng tai không nghe được, mà chính lỗi lầm của các ngươi đã phân cách các ngươi với Thiên Chúa các ngươi; chính tội lỗi các ngươi đã khiến Người ẩn mặt để khỏi nhìn, khỏi nghe các ngươi” (Is 59,1-2).
Do đó, bàn tay nhân từ của Chúa có thể trốn tránh những người từ chối nó, hoặc thậm chí, nó có thể trở thành dấu hiệu của sự phán xét và của công lý thánh. “Vì thế, Đức Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với dân Người,Người đã giơ tay phạt chúng” (Is 5,25). “Thật là khủng khiếp, khi phải rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống!” (Hr 10,31), thật đáng sợ khi có “bàn tay của Chúa giơ lên chống lại” (Ed 44,12; Is 5,25 và nhiều đoạn khác). Tuy nhiên Thiên Chúa công chính, cũng rất nhân từ, “Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời” (Tv 30,6). Người “mở rộng bàn tay của mình”, nhưng không phải lúc nào cũng để tiêu diệt, mà là để thanh tẩy, thúc giục hoán cải: “Ta sẽ trở tay chống lại ngươi. Gỉ sét của ngươi, Ta sẽ tẩy sạch, như người ta lấy muối luyện kim. Mọi cặn bã của ngươi, Ta sẽ loại bỏ” (Is 1,25). Thực vậy, “Người gây thương tích, cũng chính Người băng bó, đánh bầm dập xong, lại ra tay chữa lành” (G 5,18). Và làm thế nào chúng ta có thể không nghĩ về tình tiết được trình thuật bởi Đa-ni-en? Trong bữa tiệc báng bổ của Belshazzar, Thiên Chúa gửi một “bàn tay của con người” mà các “ngón tay” viết ra những lời bí ẩn và tiên báo mà chỉ Đa-ni-en mới có thể giải thích (Đn 5,5.24).
2. Bàn tay của Chúa, biểu tượng của tình yêu
Trong nhiều trường hợp, bàn tay của Thiên Chúa xuất hiện trong trình thuật kêu gọi những người mà Người ban nhiều ơn lành và giao phó các nhiệm vụ, như trường hợp của các Tiên tri: “Tay Đức Chúa đặt trên ông Ê-li-a” (1V 18, 46), “Tay Đức Chúa đặt trên ông Ê-li-sê” (2V 3,15), “Thật vậy Đức Chúa đã phán với tôi thế này,khi tay Người nắm lấy tôi” (Is 8,11); “Tay Đức Chúa đặt trên tôi” (Ed 8,1), Tiên tri Ê-dê-ki-en nói “Tôi nhìn, thì kìa có bàn tay đưa về phía tôi, bàn tay đó cầm một cuốn sách” (Ed 2,9). Ét-tra, kinh sư, người sẽ trở thành người hướng dẫn cho sự đổi mới tinh thần của Ít-ra-en trở về sau cuộc lưu đày,“có bàn tay nhân lành Thiên Chúa của ông che chở ông” (Er 7,9). Thiên Chúa phán về Đa-vít : “Ta sẽ không ngừng đưa tay nâng đỡ, tay quyền năng củng cố vững vàng” (Tv 89,22); và về Đấng cứu thế trong tương lai: “Ta là Đức Chúa, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta. Ta đã nắm tay ngươi” (Is 42,6). Những cách diễn tả này tạo thành một loại dấu ấn bảo đảm về tính xác thực của ơn gọi. Cùng với nhau, chúng cho thấy sức mạnh của Thần Khí và sự bảo vệ liên lỉ mà Thiên Chúa dành cho những người được tuyển chọn. Nếu như ở trong tay của ai đó được xem như bị bắt, bị khuất phục, thì ngược lại, ở trong tay Thiên Chúa thì không bị kìm hãm, nhưng được tự do. Đôi bàn tay ấy không xin xỏ mà luôn cho đi. Đôi bàn tay ấy không nắm lại nhưng luôn mở ra. Trên hết, bàn tay của Thiên Chúa là biểu tượng cho tình yêu của Người dành cho nhân loại, một tình yêu tạo nên sự gần gũi, quan tâm, tha thứ: “Hẳn Chúa yêu thương các dân, toàn dân thánh ở trong tay Chúa” (Đnl 33,3); Người đảm bảo cho người công chính và cho tất cả những ai đi theo đường lối của Người: “Ta sẽ không ngừng đưa tay nâng đỡ, tay quyền năng củng cố vững vàng” (Tv 89,22); “Bàn tay của Thiên Chúa che chở tất cả những ai tìm kiếm Người và giáng phúc cho họ” (Er 8,22). “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa và chẳng cực hình nào động tới được nữa” (Kn 3,1). “Người công chính, người khôn ngoan cùng với những công việc họ làm đều ở trong tay Thiên Chúa” (Gv 9,1 ). “Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thỏa thuê” (Tv 145,16). Lòng nhân hậu thánh thiêng này được biểu tỏ cách đặc biệt trong việc tiếp nhận những giọt nước mắt của người nghèo và người yếu đuối, người không có khả năng tự vệ và người bị áp bức: “Nhưng Chúa nhìn nỗi khổ cực đau thương, Chúa để ý, tự tay lo liệu. Người yếu thế giao phó đời mình cho Chúa, kẻ mồ côi được chính Chúa phù trì” (Tv 10,14).
3. Chúa Giê-su đặt tay lên chân các môn đệ
Với việc nhập thể, dung mạo của Chúa Cha được tỏ lộ nơi dung mạo của Chúa Giê-su và bàn tay của Thiên Chúa hoạt động qua bàn tay của Chúa Giê-su, đó là bàn tay chăm sóc, chữa lành, nâng đỡ và giúp đỡ. Nhiều lần trong các sách Phúc Âm, người ta đề cập rằng “ai ai có bệnh cũng đổ xô đến để sờ vào Người” (Mc 3,10). Và Chúa Giê-su “đặt tay trên từng người và chữa lành họ” (Lc 4,40). Trong những dịp khác, bàn tay của Chúa Giê-su chúc lành: “Bấy giờ người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su, để Người đặt tay trên chúng và cầu nguyện. […] Người đặt tay trên chúng, rồi đi khỏi nơi đó” (Mt 19,13-15). Ở khắp mọi nơi, đi tới đâu là Chúa Giê-su “thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành” (Cv 10,38). Khi Người đưa tay ra là để thanh tẩy (Mt 8,3), để cứu (Mt 14,31), để phục sinh và hồi sinh (Mc 5,41; 9,27), để chúc lành và chữa lành (46,5; 7,32), để cho thấy lại (Mc 8,23-25), để bảo vệ và bênh vực đoàn chiên mà Chúa Cha đã trao phó cho Người, vì “không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28). Chúa Giê-su đã bị nhận một cái tát trong phiên tòa xét xử trước thầy thượng phẩm (Ga 18,22), nhưng tay Người chưa tát ai bao giờ. Điều này làm ta nhớ lại điều Chúa Giê-su đã nói với Gio-an Bosco trong giấc mơ chín tuổi: “Không phải bằng những cú đấm, nhưng nhưng bằng sự hiền lành và bác ái, con sẽ thu phục được những người bạn này của con” . 779
Lần cuối cùng Thánh sử Gio-an nói về bàn tay của Chúa Giê-su trong Tin Mừng của ông là trong trình thuật rửa chân. Đó là vào đêm trước cuộc khổ nạn của Người: “Đức Giê-su biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người” (Ga 13,3), và “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (13,1). Sau khi đã để lại biết bao dấu chỉ yêu thương cho các môn đệ, Chúa Giê-su muốn để lại một kỷ niệm vĩnh cửu không chỉ cho các môn đệ Người tuyển chọn, mà còn cho những ai Người sẽ gọi, những ai sẽ theo Người và tham dự vào cuộc sống của Người, vào ơn cứu độ và nhiệm vụ của Người. “Người yêu thương họ đến cùng”: không phải là một kết thúc theo nghĩa thời gian, mà là một phẩm tính, bởi vì tình yêu thúc đẩy Chúa Giê-su vượt ra khỏi giới hạn xa nhất, thực sự là vượt quá giới hạn, lên đến một cực điểm nghịch lý, đến một đỉnh cao không thể tưởng tượng được. Chính tình yêu dẫn đến những cách hành xử vượt qua mọi lô-gic: “Thiên Chúa và thầy” mà tất cả phải phủ phục “dưới bệ chân” (Tv 99,110), giờ đây Người trở thành người phục vụ, quỳ gối trước mặt các môn đệ. Bàn tay của Chúa Giê-su nắm lấy chân các môn đệ, từng người một, từ Phê-rô đến Giu-đa. Chúa Giê-su không nắm lấy cái đầu những người này, cùng với tất cả những suy nghĩ, kế hoạch, ước mơ, lý tưởng và quyết tâm của các môn đệ, nhưng cúi xuống rửa chân cho họ, nghĩa là phần cơ thể tiếp xúc nhiều nhất với đất, phần dễ bị bẩn hơn, phần nói lên sự mong manh và nghèo khó, phần đi lại, vất vả, mồ hôi. “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (13,15): cử chỉ này có giá trị tưởng nhớ cho các môn đệ mọi thời, có thể sánh với Bí Tích Thánh Thể, mà Chúa Giê-su nói: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc22,19).
4. Đặt mình trong tay Thiên Chúa
Đặt mình trong tay Thiên Chúa diễn tả một đức tin sâu xa và niềm tín thác nơi Thiên Chúa. Khi biết được tình yêu mãnh liệt của Thiên Chúa dành cho mọi thụ tạo của Người, chúng ta tin rằng không có điều gì trong thế giới và trong sự hiện hữu của con người lại xảy ra cách ngẫu nhiên hay vô nghĩa, nhưng mọi sự, mọi biến cố đều được Người nâng đỡ và hướng dẫn. Các nhà Thánh Vịnh cầu nguyện: “Số mạng con, chính Ngài nắm giữ” (Tv 16,5); “Nhưng con đây vẫn tin tưởng nơi Ngài, lạy Chúa, dám thưa rằng: Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay Ngài” (Tv 31,15-16); “Ngài dò xét con và Ngài biết rõ[…], Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con” (Tv 139,1-5). Chính Chúa Giê-su khi bị đóng đinh trên thập giá đã hiến mình hoàn toàn cho Chúa Cha, bằng cách dâng lên Người lời cầu nguyện này: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Cảm giác tin tưởng này là nét đặc trưng cho cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi. Ý thức được sự mong manh của mình và chắc chắn về sự trợ giúp mạnh mẽ của Thiên Chúa, họ phó thác cho Người những bước đầu tiên của Giáo hội và nhiệm vụ truyền giáo đầy khó khăn. “Vì có bàn tay Chúa ở với họ, nên một số đông đã tin và trở lại cùng Chúa” (Cv 11,21). Trước bàn tay sẵn sàng mở ra để đón nhận, giúp đỡ và an ủi này, Giáo hội tiếp tục can trường tiến bước trong lịch sử nhân loại.
5. “Bàn tay của Chúa” trong các lá thư của M.D. Mazzarello
Biểu tượng bàn tay của Chúa hiện diện trong trí tưởng tượng và hiện lên trong các Lá thư của Maria Domenica. Mẹ nghĩ về đôi bàn tay đó như một biểu hiện của sự quan phòng của Chúa, nghĩ về đôi tay luôn làm việc, đôi bàn tay hé lộ một kế hoạch và rất nhiều tình yêu.
Đối với các chị em truyền giáo sắp lên đường, Mẹ khuyên nhủ: “Con hãy luôn nghĩ rằng con chẳng thể làm được gì và điều con thấy có lẽ mình biết làm thì đều do bàn tay Thiên Chúa làm nơi con. Không có Ngài, chúng ta không có khả năng làm được gì, ngoài điều xấu” (Thư số 66,2). Câu “Bàn tay của Thiên Chúa làm” diễn tả một Thiên Chúa năng động, không ngồi yên, hành động ân cần, chăm sóc các thụ tạo của Ngài cách thực tiễn.
Ý tưởng về Thiên Chúa này đã tiềm ẩn trong tâm trí Mẹ khi còn nhỏ. Điều này được tiết lộ qua câu hỏi nổi tiếng của cô bé Maria Mazzarello dành cho ba: “Ba ơi, Chúa đã làm gì trước khi tạo thành vũ trụ?”. Câu hỏi không nhắm đến hữu thể của Thiên Chúa, không hỏi rằng “Thiên Chúa là gì trong chính mình”, mà là “Ngài làm gì”. Mẹ không thể nghĩ về một Thiên Chúa với đôi bàn tay trơ trơ, một Thiên Chúa không làm việc, không hoạt động, một Thiên Chúa không có thế giới, không có con người là đối tượng của tình yêu và sự chăm sóc của Người. Maria Domenica không thể biết rằng ngay từ khi còn trẻ, cô bé đã tiếp chạm được với những suy tư đòi hỏi sự suy luận đầy hiểu biết của các Giáo phụ và các nhà thần học lừng lẫy của thời Trung cổ, đó là một Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa tạo dựng nên đối tượng tình yêu của mình. Cô bé càng không thể tưởng tượng rằng mình đã bước vào phạm vi của “tín biểu” nhiệm mầu, mà Kinh Thánh chỉ tiết lộ một điều gì đó: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1,); “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời” (Ga 1,1). Ngay cả ý thức khiêm tốn về việc “không có khả năng làm bất cứ điều gì” và lời khẳng định “Không có Người, chúng ta chỉ có thể làm điều xấu” gợi lại một cách hiệu quả những lời của Chúa Giê-su, khi Người nói về những nhánh nho không thể tách rời khỏi cây nho: “Không có Thầy, anh em không thể làm được gì” (Ga 15,5).
Đối với một chị truyền giáo sắp khởi hành khác, Mẹ Mazzarello đề nghị: “Con đừng bao giờ thất đảm vì bất cứ nghịch cảnh nào, con hãy đón nhận mọi sự từ nơi bàn tay rất thánh của Chúa Giê-su, hãy đặt tất cả sự tín thác của con vào Ngài và đặt mọi niềm hy vọng nơi Ngài” (Thư số 65,1). Với nữ tu Angela Vallese, giám đốc nhà ở Montevideo: “Con đừng sợ hãi, hãy tự thuyết phục mình rằng các khuyết điểm sẽ luôn luôn có, cần thiết là phải sửa chữa và phục hồi tất cả những gì có thể, nhưng với sự bình tĩnh và hãy phó thác điều còn lại nơi bàn tay Thiên Chúa” (Thư số 25,2). Vào dịp Giáng sinh, Mẹ vui vẻ bày tỏ: “Những ngày này đẹp biết bao! Chúng đong đầy cõi lòng nghèo nàn của chúng ta bằng niềm vui khác thường, vì Chúa Giê-su Hài Ðồng đến với chúng ta với đôi tay chan chứa ân sủng.Ngài làtấtcả tình yêu và tất cả lòng nhân ái để chúng ta có can đảm đến gần Ngài” (Thư số 32,1). Dường như M.D. Mazzarello luôn có một ý tưởng về Chúa Giê-su với đôi tay rộng mở, sẵn sàng trao ban và đón nhận những gì chúng ta trao phó cho Người một cách đơn sơ và tín thác.
Ngoài bàn tay của Thiên Chúa và Chúa Giê-su, Mẹ Mazzarello còn nghĩ đến đôi tay của chúng ta, cũng phải luôn bận rộn và đầy ắp việc lành. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong những lời nói với các nữ tu Saint-Cyr: “Thời gian qua mau lắm và nếu chúng ta không muốn thấy mình trắng tay vào giờ chết, thì cầnphảisớm xây dựng đời mình trên nhân đức vững chắc và đích thực” (Thư số 49,6).
Chú thích
779 Bosco Giovanni, Memorie dell’Oratorio di San Francesco di Sales dal 1815 al 1855, trong Fonti Salesiane I 1176.