FMA Logo

9. Trái tim con người



Ẩn bên trong lồng ngực, trái tim biểu thị những gì nằm sâu bên trong, những gì không thể xuyên thủng, là hạt nhân thân mật nhất và đích thực nhất của con người, là nguồn gốc phát sinh mọi năng động tinh thần. Trái tim là nơi con người gặp Thiên Chúa và sắp đặt mọi sự hiện diện của nó, là mảnh đất của tình yêu, của suy tư khôn ngoan, của sự phân biệt, của sự trưởng thành lương tâm và trưởng thành nội tâm. Kinh Thánh có nói về “suy nghĩ của trái tim”, “quyết định của trái tim”, “sự hoán cải của trái tim”,  “trái tim hiểu biết”, “trái tim nguyên vẹn”, “trái tim dễ dạy”, “trái tim khôn ngoan”, “trái tim kiên định”, “trái tim không chê trách được”, “ trái tim mới”,“yêu Chúa bằng cả trái tim”, v.v...

Vì thế, thuật ngữ “trái tim” đề cập đến con người trong sự toàn vẹn của nó. Theo nghĩa này, Thiên Chúa yêu cầu chúng ta tìm kiếm Người và yêu mến Người “bằng tất cả trái tim” (Đnl 4,29; 6,4). Cũng chính trong viễn tượng bao quát này, Chúa Giê-su khẳng định: “Kho tàng của anh emở đâu thì lòng anh emở đó” (Mt 6,21), “lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12,34). Tuy nhiên, Người cũng quở trách các môn đệ vì “sự chậm chạp” (x.Lc 24,25) hay “con tim chai đá” (x.Mc 8,17; 16,14).

Trong Kinh Thánh không thiếu những kiểu nhân cách hóa, qua đó Thiên Chúa nói về trái tim của mình. Được cuốn hút hoàn toàn vào lịch sử nhân loại, Người có một trái tim rung động và dịu dàng, tràn đầy cảm xúc mãnh liệt: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11,8). Chúa Giê-su cũng nói lên tấm lòng của Người. Người mô tả các đặc điểm của nó và mời gọi bắt chước: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29).

Ở đây, suy tư của chúng ta không tập trung vào trái tim Thiên Chúa được mạc khải trong Kinh Thánh hay các bản văn Tin Mừng nói đến trái tim Chúa Giê-su, nhưng tập trung vào giá trị tượng trưng của trái tim con người, bởi vì qua việc nhập thể, Thiên Chúa đã mặc lấy trái tim con người, khiến Người có khả năng bày tỏ tấm lòng của chính Người. Thật vậy, Con Thiên Chúa đã “làm việc bằng bàn tay con người, suy nghĩ bằng trí óc con người, hành động bằng ý chí con người, yêu bằng trái tim con người” (GS 22). Để thu hẹp khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người, trước hết, Thiên Chúa đến với chúng ta, Người học cách trở nên “giống như chúng ta trong mọi sự”, Người khuyến khích chúng ta: “Hãy đến với Ta...hãy học cùngTa” (Mt 11,29). Người yêu cầu chúng ta hướng trái tim mình về trái tim của Người.

Không thể vạch ra một bức tranh bao quát về “trái tim” trong nền nhân học Kinh Thánh. Ở đây, chúng tôi chỉ nhấn mạnh một vài đường nét chính mà dường như M. D. Mazzarello có thể cảm nhận cách đặc biệt.

1.   Trái tim con người: một vực thẳm

Thâm hiểm biết bao lòng dạ người đời !” (Tv 64,7). Vực thẳm gợi lại một thực tại bí ẩn, một chiều sâu không thể dò thấu, không thể thẩm thấu. Thánh Au-gút-ti-nô bình luận về Thánh Vịnh 41,8, “vực thẳm kêu gào vực thẳm”, tự hỏi xem: “Điều gì thực sự sâu hơn vực thẳm này? Đó là trái tim con người. Mọi người có thể nói, chúng ta có thể nhìn thấy mọi người qua hành động tay chân của họ, chúng ta có thể nghe thấy mọi người qua lời nói của họ, nhưng tư tưởng của họ nào ai thấu được, tâm can họ nào ai dò được? Ai sẽ có thể hiểu được những gì con người mang trong lòng mình, những gì họ có thể, những gì họ biết, những gì họ có, những gì họ muốn, những gì họ không muốn?”. 780

 Alessandro Manzoni mô tả trái tim con người bằng thành ngữ “mớ hỗn độn”. Hình ảnh diễn tả rất rõ những rắc rối,  nghịch lý, bối rối và bồn chồn chất chứa trong sâu thẳm con người. Trái tim, một mớ bòng bong hỗn độn, một vực thẳm không thể dò được, thường bị những vẻ bề ngoài làm lu mờ. Trước mặt Thiên Chúa, không có gì có thể che giấu, Người nhìn thấy con tim trong sự thật sâu sắc nhất của nó: “Người tìm kiếm vực thẳm và trái tim và Người thâm nhập tất cả những bí mật của họ” (Hc 42,8). “Loài người nhìn thấy bề ngoài, nhưng Chúa nhìn thấy tấm lòng” (1Sm 16,7). Thiên Chúa ghét sự không nhất quán của dân Người: “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm” (Is 29,13;Mc 7,6). Chúa Giê-su cũng sử dụng một lời khiển trách tương tự khi chỉ trích sự giả dối của người Pha-ri-siêu: “Các ông là những kẻ làm ra bộ công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu biết lòng các ông” (Lc 16,15).

Thiên Chúa biết rõ lòng của con người hơn chính họ biết lòng mình. Thánh Au-gus-ti-nô nói chuyện trực tiếp với Chúa: “Thật vậy, thưa Ngài, con thừa nhận Ngài ở trong con nhiều hơn phần sâu kín của con và cao hơn phần cao nhất của con”. 781 Đây là niềm xác tín đã thúc đẩy tác giả Thánh Vịnh cầu khẩn: “Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ” (Tv 139, 23). “Xin dạy con đường lối Ngài, lạy Chúa, để con vững bước theo chân lýcủa Ngài. Xin Chúa hướng lòng con, để con biết một niềm kính tôn Danh Thánh” (Tv 86, 11). Thông qua các Tiên tri, chính Thiên Chúa nói: “Ta là Đức Chúa, Ta dò xét lòng người, thử thách mọi tâm can” (Gr 17,10; 11,20; 20.12). Ngay cả những Ki-tô hữu đầu tiên, khi đối mặt với nhu cầu phân định nghiêm túc, cũng hướng về Thiên Chúa cầu khẩn với Người như “Đấng thấu suốt lòng mọi người” (Cv 1,24; 15,8).

Sách Châm Ngôn đưa ra lời khuyên khôn ngoan này, thúc giục chúng ta tin tưởng vào Chúa: “Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con” (Cn 3,5). Điều này luôn luôn cần thiết. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Thiên Chúa không thay thế được nỗ lực của con người muốn cố gắng tiến sâu hơn vào vực thẳm này, để sắp xếp trật tự và thống nhất trái tim của chính mình.  

2.  Gìn giữ trái tim

Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ, vì từ đó mà sự sống phát sinh” (Cn 4,23). Gìn giữ trái tim là bảo vệ và canh chừng, chăm sóc một thứ quý giá để nó không bị hư hỏng, không bị hoen ố, không bị vấy bẩn mà vẫn còn nguyên vẹn, tinh khiết, tươi mới, tuyệt đẹp. Trái tim con người không phải là một vật thể tĩnh, mà là một cơ quan sống và năng động như con người, nó tràn đầy năng lượng. Gìn giữ trái tim nghĩa là chăm sóc bản chất của một người đang lớn lên, chăm sóc sự sống khi nó tăng trưởng, chăm sóc tiềm năng thiêng liêng khi nó phát triển.

Còn nhiều hơn thế nữa. Trái tim nhỏ bé của con người chứa đựng kho tàng vô cùng lớn lao: sự hiện diện của Thiên Chúa. Trái tim đôi khi nghèo nàn và hẹp hòi cũng có thể trở thành Đền thờ của Thiên Chúa, là nơi trú ngụ của Thiên Chúa Ba Ngôi, theo lời Chúa Giê-su đã hứa: “Ai yêu mến Thầy […] Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Trái tim dù lạnh lùng và “cứng rắn” vẫn có thể đong đầy tình yêu Thiên Chúa, như thánh Phao-lô nói: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần” (Rm 5,5). Trái tim “u mê và chậm tin” (Lc 24,25) cũng vẫn có thể đón nhận lời của Chúa, có thể giữ lời hứa của Chúa, làm chứng về những công trình của Chúa, nhớ lại những ơn lành của Ngài. Trái tim cũng có thể trở thành cái bàn để Thiên Chúa viết lề luật của Người trên đó (Gr 31,33). Thánh Phao-lô đưa ra lời chúc tốt đẹp này cho các Ki-tô hữu: “Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu,nhận biết tình thương của Đức Ki-tô là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa” (Ep 3,17-19). Ông khuyến khích tín hữu Ti-mô-thê: “Kho tàng quý giá đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta” (2Tm 1,14), kho tàng quý giá được giao phó cho trái tim con người thực sự là vô giá.

Một mẫu gương tuyệt vời và duy nhất về việc “gìn giữ trái tim” và “gìn giữ kho tàng quý giá đã được Thiên Chúa giao phó”, chính là Đức Maria. Trong các Tin Mừng, những trang nói về Đức Maria rất ít, tuy nhiên, trong số rất ít từ ngữ đề cập đến Đức Maria, Thánh Lu-ca muốn nhấn mạnh đến việc đón nhận mầu nhiệm một cách khôn ngoan và có suy nghĩ của Mẹ, thánh sử đã nói hai lần: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19);“Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (2,51). Cách diễn tả này mở ra những cái nhìn sâu sắc về đời sống nội tâm của Đức Maria và cho thấy thái độ kiên định mà qua đó, Mẹ đã cảm nghiệm được sự ra đời và lớn lên của Chúa Giê-su. “Ghi nhớ những điều trong lòng” là một hoạt động không chỉ của trí tuệ, mà còn của trái tim, của bản ngã sâu nhất, chân thực nhất, từ đó nảy sinh những quyết định và cảm xúc, có khả năng mang lại ý nghĩa cho mọi sự hiện hữu.

3.  Hoa trái tốt từ một trái tim tốt

Chúa Giê-su có một lời khẳng định đơn sơ đầy khôn ngoan: “Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Lc 6, 45). Tư tưởng trên được nhấn mạnh qua hình ảnh ẩn dụ về cây tốt cây xấu-“ Cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7,17)và từ dụ ngôn hạt giống được gieo vào các loại đất khác nhau. “Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả” (Lc 8,15).

Vì vậy, trái tim là gương soi tâm hồn, là gốc rễ của hành vi đạo đức nơi một người. Cái ác sinh ra từ một cõi lòng xấu: “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7,21-23). Lòng gian tà làm biến dạng toàn bộ diện mạo đạo đức của con người. “Tâm địa quanh co sao gặp được hạnh phúc,miệng lưỡi dối trá ắt phải chịu tai ương” (Cn 17,20), “lòng mưu tính những chuyện xấu xa, chân mau mắn chạy đi làm điều dữ” (Cn 6,18) và “Đức Chúa ghê tởm tâm địa quanh co” (Cn 11,20). Tuy nhiên, rất nhiều điều tốt đẹp có thể đến từ một trái tim nhân hậu: tìm kiếm Chúa (Tv 27,8), hoán cải (Gl 2,13), sự vâng lời của đức tin và lòng trung thành (Rm 10,9-10), ưa thích lối sống vẹn toàn (Cn 11,20), niềm vui (1Sm2,1), sự quảng đại (2Cr 9,7) và trên hết là tình yêu (Đnl6,5; Mt 22,37).

Kinh Thánh nói nhiều về những hoa trái tích cực của một tấm lòng tốt hơn là những hoa trái tiêu cực của một tấm lòng xấu. Theo nghĩa tích cực, từ “trái tim” thường xuất hiện cùng với các động từ yêu, nhớ, lắng nghe, quan sát, tìm kiếm, mong muốn, quyết định, phục vụ, cho đi, khen ngợi, v.v…; và các tính từ nhu mì, khiêm tốn, khôn ngoan, đơn sơ, rộng lượng, ăn năn, hối hận, dễ dạy, trong sáng, chân thành, ngay thẳng, hăng hái, chạnh lòng thương, v.v... Hành trình của đời sống người Ki-tô hữu hệ tại ở việc liên tục “hoán cải cõi lòng” : từ một cõi lòng xấu thành một cõi lòng tốt, từ một con tim cũ đến một “con tim mới”, từ “trái tim bằng đá” đến “trái tim bằng thịt” (Ed 36,26), từ một trái tim khờ dại trở thành một trái tim khôn ngoan. Đó là một hành trình kéo dài suốt đời và đòi hỏi sự kiên nhẫn, kỷ luật, khổ hạnh, chiến đấu, hy sinh. Đó là một con đường được phân cực bởi một mục tiêu tối cao: Trái tim con người nên đồng hình đồng dạng với trái tim Chúa.

4.  “Trái tim” trong các lá thư của Maria Mazzarello

Trong các lá thư của mình, Mẹ Mazzarello luôn nói về trái tim, nhất là về trái tim của Chúa Giê-su . “Mẹ để các con trong trái tim Chúa Giê-su” hay “Mẹ chào các con trong trái tim Chúa Giê-su” : đây là những lời Mẹ thích dùng để kết thúc các lá thư của mình. Mẹ chia sẻ với chị em niềm tín thác lớn lao của Mẹ vào Chúa Giê-su và vào tình yêu quan phòng của Người: “Con hãy tín thác nơi Chúa Giê-su, hãy đặt mọi bực bội của con trong Trái tim Ngài, hãy để Ngài làm và Ngài sẽ điều chỉnh mọi sự” (Thư số 25,3). “Con hãy vui tươi luônvà khi có những muộn phiền, con hãy đặt tất cả trong Trái Tim Chúa Giê-su” (Thư số 47,10). “Can đảm lên, khi con mệt và đau khổ, con hãy đến đặt những âu lo của con trong Trái Tim Chúa Giê-su và ở đó, con sẽ tìm được sự vỗ về và an ủi” (Thư số 65,3). Trông cậy vào Trái Tim Chúa Giê-su là dấu chỉ của sự phó thác tin tưởng. Lời mời gọi này gợi hứng đến lời khuyên của tác giả Thánh Vịnh: “Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay Chúa, Người sẽ đỡ đần cho” (Tv 55,23), và lời của chính Chúa Giê-su: “Hỡi những ai mệt mỏi và mang gánh nặng nề, hãy đến với tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).

Ngoài việc trở nên nơi mà những muộn phiền tan biến, nhường chỗ cho sự bình yên và thanh thản, trái tim Chúa Giê-su còn là điểm hẹn của các chị em dành cho Mẹ Mazzarello. Nhiều lần Mẹ mời chị em đến đó, hẹn họ: “Hãy thường xuyên đi vào trong Trái Tim Chúa Giê-su, Mẹ cũng sẽ vào đó và như thế chúng ta sẽ có thể thường xuyên ở gần nhau và nói với nhau nhiều điều” (Thư số 17,2); “Chúng ta ở xa quá […]Tốt nhất chúng ta hãy vào trong Trái Tim Chúa Giê-su và ở đó chúng ta có thể nói với nhau mọi sự. Mẹ đoan chắc với các con là sáng nào Mẹ cũng nói với các con trong Trái Tim rất đáng kính yêu này,  Mẹ nói với Ngài trong giờhiệp lễ, Mẹ nói cho từng người các con nhiều điều” (Thư số 27,5-6) và “Các con hãy nói nhiều điều tốt đẹp cho Mẹ khi các con hiệp nhất trong Trái Tim đáng kính thờ này” (Thư số 39,2).

Mối dây hiệp thông được thiết lập trong trái tim Chúa Giê-su mạnh mẽ đến nỗi xóa bỏ mọi khoảng cách: “Cả khi chúng ta bị chia cắt bởi khoảng cách rộng lớn, thì chúng ta cũng hãy làm nên một cõi lòng duy nhất để yêu mến Chúa Giê-su và Mẹ Maria Rất Thánh đáng yêu của chúng ta, chúng ta luôn có thể thấy nhau và cầu nguyện lẫn cho nhau” (Thư số 18,2); “Dù cho biển bao la chia cắt, chúng ta vẫn có thể thấy nhau và gần nhau từng giây từng phút trong Trái Tim Cực thánh Chúa Giê-su” (Thư số 22,1). Mẹ Mazzarello xác tín rằng sự hiệp thông giữa các chị em trong Hội dòng có trọng tâm là Chúa Giê-su. Trái Tim Chúa Giê-su là trục xoay của ba tương quan liên hệ chặt chẽ với nhau: tương quan của từng chị em với Chúa Giê-su, giữa toàn thể Hội dòng với Chúa Giê-su và giữa tất cả các chị em.

Một cách đơn sơ và hồn nhiên, Mẹ Mazzarello nói về trái tim mình: trái tim của mẹ “khóc vì được an ủi” (Thư số 26,4) khi nhận được tin vui từ các chị em và từ Nizza, Mẹ nghĩ đến ngôi nhà bỏ hoang của Mornese “với một cái gai trong tim” (Thư số 37,6). Mẹ tâm sự với cha Cagliero, hiện đang ở Mỹ Châu, về sự bối rối khi phải viết để thông tri: “Con tim tràn đầy nhưng đôi tay lại không biết viết xuống thế nào” (Thư số 11,3) và nhận ra rằng “khi con tim tràn đầy thì người ta không còn biết bắt đầu từ đâu” (Thư số 5,1).

Trong những lời khuyên dành cho các nữ tu, “trái tim” được nhắc lại theo nghĩa của toàn thể hiện hữu, giống như ý nghĩa của trái tim trong Kinh Thánh. Cần phải  “cầu nguyện với cõi lòng và hãy làm việc với ý hướng ngay thẳng” (Thư số 22,10),“Yêu Chúa với hết cõi lòng” (Thư số 23,1), “Cần phải suy niệm trong cõi lòng mình nếu con muốn nghe được tiếng nói của Chúa Giê-su” (Thư số 22,15), “Chúng ta cũng hãy làm nên một cõi lòng duy nhất để yêu mến Chúa Giê-su và Mẹ Maria Rất Thánh đáng yêu của chúng ta” (Thư số 18,2), có niềm tin tưởng nơi các bề trên và “hãy luôn giữ một cõi lòng rộng mở” (Thư số 18,4). Nếu có những hy sinh phải thực hiện, chúng phải được thực hiện bằng cõi lòng (x.Thư số 58,1). Lời nhắc nhở này đặc biệt khôn ngoan và đầy tình cảm: “Hãy can đảm lên, đừng có cõi lòng nhỏ bé, nhưng hãy là một cõi lòng quảng đại, rộng lớn và không sợ hãi” (Thư số 27,14; x.Thư số 47,12). “Chúng ta đừng sống hẹp hòi với Chúa Giê-su là Chủ mọi sự”. 782 Sự vĩ đại của trái tim cho thấy sự cởi mở hoàn toàn của con người đối với cái vô tận, nó có nghĩa là, để cho tình yêu Thiên Chúa xâm chiếm và mở rộng bản thân mình một cách không giới hạn, đáp lại tình yêu này bằng tất cả tiềm năng của mình. Đây là một đặc điểm thiết yếu trong diện mạo thiêng liêng của Maria Mazzarello. Cần có “trái tim rộng lớn và độ lượng” để đón nhận lời ủy thác “Ta giao chúng cho con” và hướng tới những mục tiêu lớn lao.

Dù không trực tiếp biết đến câu nói trong Kinh Thánh “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1Sm 16,7), nhưng Mẹ Mazzarello rất chắc chắn khi ám chỉ về nó: “Vì Thiên Chúa nhìn vào cõi lòng, nên điều cần thiết là những nhân đức này phải được thực hành với chính cõi lòng hơn là bằng những hành vi bên ngoài” (Thư số 19,1); “Thiên Chúa chấp nhận cõi lòng” (Thư số 21,6). Trái tim nói lên tính xác thực, tính bên trong cũng như tính toàn vẹn và toàn bộ. Mẹ Mazzarello khuyên nên giữ trái tim nguyên vẹn, “trái tim của chúng ta không gắn bó với bất cứ ai ngoài Thiên Chúa” (Thư số 35,2); “đừng chia sẻ con tim của con cho bất kỳ một ai, nó phải thuộc trọn về Chúa Giê-su” (Thư số 65,3). Vì mục đích này cần có sự cảnh giác liên tục, cần nỗ lực chăm sóc “khu vườn nhỏ của trái tim” (Thư số 58,3) nếu không “tất cả trở thành nặng nề, không thể chịu nổi và sự xấu sẽ nổi dậy như những mụn nhọt trong cõi lòng chúng ta” (Thư số 37,11). Thay vào đó, một tấm lòng rộng lớn, quảng đại, tràn đầy tình yêu dành cho Chúa sẽ sinh hoa kết trái rõ rệt, hoa trái lớn nhất chính là niềm vui. Vì lý do này, Mẹ Mazzarello nhắc nhở: “Hãy can đảm, can đảm lên và luôn vui tươi, vìđây là dấu chỉ của một tâm hồn yêu Chúa nhiều” (Thư số 60,5).


Chú thích

780 Agostino, Esposizione sui salmi, 41,13.

781 Agostino, Confessioni, III,6,11.

782 Maccono II 203.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026