FMA Logo

8. Cội rễ của các mối phúc Tin mừng



Ha Fong Maria KO, FMA

Trong văn thức tuyên khấn, các Nữ tử Đức Mẹ Phù Hộ tuyên hứa trước mặt Chúa và cộng đoàn Giáo hội là nỗ lực “sống trọn vẹn các mối phúc của Nước Trời” (HL 10). Họ khẳng định như vậy khi diễn tả ơn gọi của mình: “Trong một cộng đoàn được sinh động bởi tinh thần tông đồ của Cha Bosco và Mẹ Mazzarello, chúng ta sống đời sống mới của các mối phúc, loan báo và làm chứng cho các thanh thiếu niên nam nữ về Tin Mừng cứu độ” (HL 8). Vì vậy, các mối phúc của Tin Mừng ghi dấu ấn đặc biệt trong diện mạo thiêng liêng của FMA và thậm chí còn hơn thế nữa, trong diện mạo của Maria Domenica Mazzarello, đấng Đồng Sáng lập của họ.

1. Một bài thơ hay nhưng đòi hỏi

Khi đối diện với các mối phúc của Tin Mừng, người ta luôn cảm thấy sợ làm hỏng nó bằng những nỗ lực giải thích và bình luận. Các mối phúc là một văn bản liên tục làm chúng ta kinh ngạc, đồng thời vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta. Chúng ta không bao giờ có thể nói rằng chúng ta hiểu đúng và có lẽ đó chính là lý do tại sao các mối phúc thu hút chúng ta.

Các mối phúc khởi đầu “bài giảng trên núi” (x. Mt 5-7), bài giảng đầu tiên trong số năm bài giảng lớn của Chúa Giê-su được Mát-thêu thuật lại, Mát-thêu đã coi đó là kiệt tác văn học và thần học của mình. Bố cục nghệ thuật, nội dung sâu sắc và đổi mới làm cho nó trở thành một bài diễn văn có sức hấp dẫn đặc biệt mọi lúc, không chỉ đối với những người theo đạo Ki-tô, mà còn đối với những người không xưng mình là môn đệ của Đức Ki-tô, chẳng hạn như Mahatma Gandhi đã nhiều lần xác định sự ảnh hưởng của bài giảng này đối với cuộc đời mình và ông coi các Mối phúc là “những lời cao quý nhất của tư tưởng con người”. Ngồi trên sườn đồi, trước Biển Hồ Ga-li-lê êm đềm và trong vắt, với thái độ trang nghiêm nhưng niềm nở, Chúa Giê-su nói như một ngôn sứ đầy giác ngộ, một bậc thầy thông thái và một thi sĩ say sưa. Đám đông đến từ mọi nơi (x. Mt 4,25), nhìn Người với sự mong đợi và tò mò, tôn kính và hết sức chú ý: đây là khung cảnh mà Mát-thêu khiến độc giả của thánh sử tưởng tượng ra. Sau đây là nội dung:

Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó

Nước Trời là của họ

Phúc thay ai sầu khổ

vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an

Phúc thay ai hiền lành

vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp

Phúc thay ai khát khao nên người công chính

vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng

Phúc thay ai xót thương người

vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch

vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa

Phúc thay ai xây dựng hòa bình

vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính

Nước Trời là của họ

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

Một số đặc điểm cấu thành Bát Phúc:

- Tám mối phúc, mỗi mối phúc được hình thành bởi điệp ngữ chúc phúc đầu câu (“Phúc..”.), kèm theo một lý do (được thể hiện bằng “…”), như tám dòng thơ, tám nốt nhạc hòa quyện tung cánh bay xa, tám hình ảnh khó nắm bắt mà hấp dẫn. Nó đánh thức nơi người nghe và người đọc nỗi nhớ và hy vọng về một thế giới được tạo nên từ lòng tốt, sự chân thành, công lý, không bạo lực và không dối trá: một phong cách sống đẹp hơn của con người.

- Sau tám mối phúc còn có mối phúc thứ chín, “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả…” (các câu 11-12), phát triển nội dung mối phúc thứ 8, và tuy nhiên, thay vì nói về ngôi thứ ba, thì lại nói “các bạn” ngôi thứ hai số nhiều và “vì tôi” ở ngôi thứ nhất. Như vậy, mối quan hệ cá nhân được làm nổi bật tôi-các bạn giữa Chúa Giê-su và các môn đệ. Những người “có phúc” không phải là những nhân vật xa vời; “những cuộc bách hại” phải chịu không phải vì một lý do cao cả chung chung, nhưng vì Chúa Giê-su. Mối phúc này còn cho thấy rõ cả chiều kích lịch sử: “…các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế”. Các môn đệ của Chúa Giê-su được xếp vào một chuỗi những người được chúc phúc trong suốt lịch sử.

- Mối phúc thứ nhất và thứ tám có cùng một lý do: “vì Nước Trời là của họ”. Sự bao gồm này đánh dấu chủ đề chính không chỉ của các mối phúc, mà còn của toàn bộ Bài Giảng Trên Núi. Thực vậy, biểu thức “Nước Trời” (hoặc tương đương “vương quốc của Chúa”) xuất hiện tám lần trong suốt bài giảng, như điểm trọng yếu. Chúa Giê-su mạc khải vẻ đẹp của Nước Thiên Chúa và hạnh phúc của những ai bước vào đó.

- Ngoài biểu thức “Nước Trời” đánh dấu chủ đề trung tâm của các mối phúc, một từ khóa khác, “Sự công chính” xuất hiện hai lần: ở mối phúc thứ tư và thứ tám. Chúng là hai thuật ngữ rất được kết nối, như thể hiện rõ trong Mt 6,33 : “Trước tiên hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”.

- Trong phần “”, mối phúc thứ nhất và thứ tám được diễn đạt bằng động từ ở thì hiện tại (vì Nước Trời là của họ), trong khi những mối phúc khác dùng thì tương lai (họ sẽ được an ủi; sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp, v.v…). Hiện tại và tương lai, hiện thực và mong đợi, yêu cầu và lời hứa, ân sủng và nỗ lực đan quyện vào nhau. Việc thực hành các mối phúc có viễn cảnh cánh chung; nước Thiên đàng đã hiện diện nhưng chưa đạt được trọn vẹn; các Ki-tô hữu đang trên một hành trình, đang trong một tiến trình biến đổi.

- Chúa Giê-su bắt đầu “bài giảng trên núi” không phải bằng cách biện luận về những khái niệm trừu tượng, lý thuyết, những định nghĩa không thể chối cãi hay những quy tắc không thể bác bỏ, nhưng bằng một lời loan báo niềm vui. Người trình bày một Thiên Chúa với khuôn mặt tươi cười, một Thiên Chúa kết giao với niềm vui của con người và làm tăng thêm niềm vui đó. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Con đường của Đức Ki-tô được tóm tắt trong “các mối phúc”, con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc vĩnh cửu mà trái tim con người khao khát” (số 1697). Không giống như luật pháp, nghĩa vụ và sự cấm đoán, các mối phúc trước hết không được xác định bởi điều gì là đúng và là nghĩa vụ, mà bởi điều Thiên Chúa muốn thấy nơi con cái Người, bởi điều tạo nên niềm vui của Thiên Chúa và hạnh phúc của con người. Các mối phúc không vạch rõ giới hạn của mức tối thiểu không thể thiếu, nhưng vạch ra lý tưởng về mức tối đa có thể; Các mối phúc không xác định mức độ đầy đủ mà hướng tới cái đẹp không có ranh giới.

- Chúa Giê-su kết thúc việc công bố các mối phúc bằng lời mời gọi: “Anh em hãy vui mừng hớn hở…” (Mt 5,12). “Vui mừng!”, lời sứ thần Gáp-ri-en đã nói với Maria thành Na-da-rét (Lc 1,28). “Hôm nay tôi báo cho anh em một niềm vui lớn” (Lc 2,10), lời thiên thần đã nói với những người chăn chiên khi Chúa Giê-su giáng sinh. Giờ đây, lời mời tương tự vang vọng trên núi, lần này không phải từ miệng một thiên thần, mà từ miệng Con Thiên Chúa làm người. Mặc dù Chúa Giê-su thấy trước những sỉ nhục, từ chối, bắt bớ cho chính mình và cho các môn đệ, nhưng Người mời gọi chúng ta hãy vui lên. Niềm vui của Thiên Chúa làm nở nụ cười ngay cả nơi những người đang khóc. Sự nhấn mạnh này sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần trong giáo lý của Người. Ngay cả trước ngày chịu chết, dù trong lòng đau đớn khôn nguôi, Chúa Giê-su trấn an các môn đệ: “nỗi buồn của anh em sẽ biến thành niềm vui” (Ga 16,20) và “không ai có thể lấy đi niềm vui của anh em” (Ga 16,22) . Các mối phúc công bố và báo trước niềm vui này.

Trong các mối phúc, các nhân đức không được ca ngợi một cách trừu tượng, mà được ca tụng là những người nghèo khó, trong sạch, đau khổ, v.v... Và một lần nữa: chúng không cấu thành danh sách tám hay chín nhóm người, càng không phải là tám điều kiện để vào Nước Trời, mà là giới thiệu tám viễn cảnh của vẻ đẹp nơi những người đi theo Chúa Giê-su, do đó, họ sống quyền công dân Tin Mừng qua giao ước mật thiết với Thiên Chúa.

Các Mối phúc là thể loại văn học phổ biến trong Kinh Thánh. Các nhà hiền triết và tiên tri của Ít-ra-en thường truyền đạt những lời sấm của họ bằng cách sử dụng phong cách này. “Phúc thay người kính sợ Chúa” (Tv 112,1); “Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo khổ” (Tv 41,1) ;Phúc thay kẻ nghiền ngẫm khôn ngoan” (Hc 14,20); v.v… Hơn 40 trong số chúc phúc này được tìm thấy trong Cựu Ước. Bây giờ phong cách này ở trên môi miệng của Chúa Giê-su qua một hình thức mở rộng và có cấu trúc: nó tạo thành một bài thơ vạch ra căn cước nhận dạng của ứng viên Nước Trời; một kiểu mẫu thánh thiện, một loại “thẻ căn cước” cho mỗi Ki-tô hữu và một “Magna Carta” (Đại hiến chương) của những người thuộc giao ước mới mà Chúa Giê-su đã thiết lập; và một lộ trình nên thánh như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nói: “Từ “hạnh phúc” hay “phước lành” trở nên đồng nghĩa với “thánh thiện”, vì nó nhấn mạnh rằng người trung thành với Thiên Chúa và sống Lời của Người đạt được hạnh phúc thật, nhờ trao ban chính mình” (GE 64).

Mặc dù có ngôn ngữ đẹp, giọng điệu vui tươi và thơ phú, nhưng các mối phúc có những đòi hỏi luân lý nghiêm túc và những mục tiêu cao cả. Chúng “đi ngược lại rất nhiều với những gì là phong tục, những gì được thực hiện trong xã hội; và ngay cả khi thông điệp này của Chúa Giê-su thu hút chúng ta, thì trên thực tế, thế giới đang dẫn chúng ta đến một lối sống khác. Các Mối phúc không phải là điều gì nhẹ nhàng hay hời hợt; trái lại, chúng ta chỉ có thể sống chúng nếu tất cả sức mạnh của Chúa Thánh Thần tràn ngập chúng ta và giải thoát chúng ta khỏi sự yếu đuối ích kỷ, lười biếng, kiêu căng” (GE 65). Logic thần linh chi phối các mối phúc Tin Mừng gợi lên điều được biểu lộ nơi mầu nhiệm thập giá, mà đối với người Do Thái nó là một “sự tai tiếng” và “sự ngu xuẩn” đối với thế gian (x. 1Cr 1,23), hoặc gợi lên niềm hạnh phúc mà Đức Maria thể hiện qua bản Magnificat. Đây là lý do tại sao việc thực thi các mối phúc đòi hỏi phải có “tính tận căn”, một lựa chọn dứt khoát, một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy không cưỡng lại được (x. 2Cr 5,14), một thái độ sâu sắc tràn ngập “tinh thần” và “cõi lòng” (Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, Phúc thay ai hiền lành,...) và mang lại sức sống cho nỗ lực luân lý cần thiết, nhiều lần và hàng ngày (Phúc thay ai kiến ​​tạo hòa bình) . Trong ánh sáng này, Rinaldo Fabris viết: các mối phúc “có hai khía cạnh: quà tặng và nỗ lực, Tin Mừng cho người nghèo và kế hoạch cuộc sống cho người khiêm tốn với trái tim trong sạch. Trong viễn ảnh của vương quốc Thiên Chúa, những đòi hỏi đạo đức nhận được tính năng động cánh chung, tính chất nghiêm trọng và triệt để của chúng”.425 Gianfranco Ravasi cũng khẳng định tương tự: “người Ki-tô hữu “được chúc phúc” là người ngước mắt nhìn lên, hướng tới cái vĩnh cửu và vô tận, lắng nghe một thông điệp đi ngược dòng, gây bối rối và thậm chí là đầy khiêu khích”.426

2. Suy tư về một chuỗi các khuôn mặt

Chìa khóa để đọc hay những quan điểm để giải thích các mối phúc có thể là: Ki-tô học, Thần học, Nhân học, Cứu cánh học, Giáo hội học, Cánh chung học, Luân lý, Thiêng liêng, Huấn giáo, v.v... - nhưng tất cả đều liên quan và bổ túc cho nhau. Trong số này, quan điểm Ki-tô học nổi bật một cách hấp dẫn đặc biệt trong chiều sâu ý nghĩa của nó.

Trước khi được công bố, các mối phúc đã được sống và trưởng thành từ một kinh nghiệm nội tâm sâu sắc. Trong khi Chúa Giê-su mô tả hình ảnh người môn đệ mà Người có trong lòng và Người thích nhìn thấy nơi các Ki-tô hữu thuộc mọi thế hệ, thì đồng thời, Người mặc khải các đường nét dung mạo của chính Người. Thực vậy, một Ki-tô hữu có lý tưởng nào khác là trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô” (Rm 8,29)? Có nét đẹp nào khác có thể tự hào khi người bước theo sát Đức Ki-tô muốn trở nên giống Người? Khi bình luận về các mối phúc, Origene đã viết: “Tất cả các mối phúc mà Chúa Giê-su công bố trong Tin Mừng được Người kinh qua bằng gương sáng và giáo huấn của Người cũng chứng minh điều đó”.427 Một suy nghĩ tương tự được tìm thấy trong Giáo lý của Giáo hội Công giáo qua tiêu đề “Ơn gọi hưởng vinh phúc của ta”: “Các mối phúc phản ánh dung mạo và đức ái của Đức Giê-su Ki-tô” (số 1717). Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng nói như vậy: “Trong Bát Phúc, chúng ta tìm thấy chân dung một Vị Thầy mà chúng ta được mời gọi để phản chiếu trong cuộc sống hàng ngày” (GE 63). Các mối phúc là chân dung tự họa của Chúa Giê-su! Đây là người thực sự có tinh thần nghèo khó, hiền lành, tâm hồn trong sạch, bình an, bị bách hại vì công lý. Tuy nhiên, dung mạo của Chúa Giê-su không thể tách riêng ra. Người là “anh cả giữa đàn em” (Rm 8,29), là “đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18). Cùng với Người, một loạt khuôn mặt được phản chiếu nơi các mối phúc, một loạt người bị Người thu hút, “vô số nhân chứng” (Hr 12,1) và các thánh, thuộc mọi thời đại và mọi nơi. Khuôn mặt gần nhất và giống nhất với khuôn mặt của Đức Ki-tô chắc chắn là khuôn mặt của mẹ Người, “Đức Trinh Nữ Maria”, như phụng vụ đã tôn kính, “phúc cho bà vì đã tin rằng Lời Chúa phán cùng bà sẽ được thực hiện” (Lc 1, 42-45), như bà Ê-li-sa-bét tung hô muôn thế hệ khen Mẹ là người có phúc (x. Lc 1,48), như chính Mẹ đã tự diễn tả qua bản Magnificat.

Đằng sau Chúa Giê-su và Mẹ Maria còn có nhiều tổ phụ đức tin, là những gương mẫu và là thầy dạy đời sống cho chúng ta, có rất nhiều “vị thánh được tìm thấy nơi những người hàng xóm cạnh nhà chúng ta” (GE 7), những người cùng thời với chúng ta. Đặc biệt thân thương và gần gũi với chúng ta là khuôn mặt của Cha Bosco và Mẹ Mazzarello. Chúng ta hãy tìm cách chiêm ngưỡng khuôn mặt của Mẹ Mazzarello để khám phá ra nét huy hoàng và vẻ đẹp của hình ảnh Chúa Giê-su được phác họa trong các Mối phúc.

3. Dung mạo Maria Domenica Mazzarello trong Bát Phúc

Chìa khóa âm nhạc - tinh thần là hỗ trợ lý tưởng cho bài thơ về các mối phúc nằm trong tính từ Hy Lạp “makárioi - phúc”, mở ra một chân trời mà trái tim con người không ngừng khao khát: đó là hạnh phúc. Đây là một ghi chú nổi bật trong linh đạo của Maria Mazzarello. Đối với Mẹ, mục đích của cuộc đời là đạt đến hạnh phúc thiên đường với Chúa Giê-su và Mẹ Maria mãi mãi, trong khi đó, công việc giáo dục giúp đưa người khác đến hạnh phúc vĩnh cửu này. Trong lá thư gởi cho một Tập sinh ở Argentina vào tháng 1/1881, vài tháng trước khi qua đời, Mẹ Mazzarello đã trìu mến khuyên cô hãy vui vẻ và trung thành đáp lại lời mời gọi của Chúa: “Hãy can đảm để bền đỗ trong ơn gọi của con, hãy đáp trả niềm hạnh phúc mà Thiên Chúa đã chọn con giữa những người con ưu tuyển hơn cả của Ngài” (Thư số 60,2). Vài tháng trước đó, vào tháng 7/1880, Mẹ gửi cho các con của mình ở Uruguay xa xôi, với cùng một tình cảm đơn sơ và mãnh liệt: “Chúng ta hạnh phúc nếu chúng ta đã là những nữ tu đích thực. Chúa Giê-su sẽ nhận chúng ta như tân lang đón nhận tân nương của mình” (Thư số 40,3). Mẹ nói về “bữa tiệc Nước Trời” với niềm vui và hy vọng sống động (Thư số 22,1; 18,1). Mẹ buồn bã thông báo về cái chết của một số chị em trong một thời gian ngắn: cái chết “sớm hay muộn rồi cũng đến lượt chúng ta. Thật là phúc nếu chúng ta có sẵn gói hành trang các nhân đức tốt đẹp” (Thư số 56,7). Đây là lời mang hương vị của các mối phúc Tin Mừng. Khát khao hạnh phúc trọn vẹn là một trong những nét dễ nhận thấy nơi M.D. Mazzarello. Đó không phải là một ước muốn mơ hồ, mà là một “vận mệnh hạnh phúc” được hứa hẹn bởi Thiên Chúa trung thành, một sự chắc chắn được đảm bảo bởi giao ước hôn nhân, một hạnh phúc được tham dự trước trong hiện tại, có thể cảm nhận và kiểm chứng được trong cuộc sống hàng ngày. Trong tầm nhìn của niềm hạnh phúc này, mọi đau khổ và khó khăn đều trở nên nhẹ nhàng, những thăng trầm chóng qua được sống một cách khôn ngoan và thực tế: “Vậy các con thân yêu nhất của Mẹ trong Chúa Giê-su, hãy can đảm lên, chúng ta hãy luôn nghĩ rằng mọi sự đều qua đi, do đó, không có gì làm phiền chúng ta, vì chúng ta cần mọi thứ để có được hạnh phúc đích thực” (Thư số 26,7; 37,11). “Dũng cảm lên, sau vài ngày chiến đấu, chúng ta sẽ có Thiên đàng mãi mãi” (Thư số 18,3). Nói một cách đơn giản, nơi kinh nghiệm và niềm hy vọng của Mẹ Mazzarello, đã làm tỏa sáng điều “đã và chưa đến” của các mối phúc Nước Trời.

“Để sống vui tươi, con cần tiến bước với sự đơn sơ, đừng tìm những thỏa mãn nơi các tạo vật cũng như nơi những thứ thuộc thế gian này” (Thư số 24,4); “Hãy can đảm, can đảm lên và luôn vui tươi, đây là dấu chỉ của một tâm hồn yêu Chúa nhiều” (Thư số 60,5); “Chúng ta làm mọi sự với ý ngay lành, để chỉ làm hài lòng một mình Ngài [Chúa Giê-su]” (Thư số 39,4); “Thiên Chúa nhìn vào cõi lòng, nên điều cần thiết là những nhân đức này phải được thực hành với chính cõi lòng hơn là bằng những hành vi bên ngoài” (Thư số 19,1); chúng ta làm việc “chỉ với mục đích duy nhất là làm vui lòng Thiên Chúa, như thế một ngày kia chúng ta sẽ được hạnh phúc” (Thư số 23,4). Những lời khuyên này và nhiều lời khuyên tương tự khác rất phù hợp với tinh thần của các mối phúc và “bài giảng trên núi”, một tinh thần không khuất phục trước sự tầm thường, không hài lòng với mức tối thiểu trần tục, không dừng lại ở việc tuân thủ các quy định, mà hướng đến mục tiêu cao vời vượt qua biên giới. Lời mời làm việc “với ý hướng ngay lành”, để “làm vui lòng Chúa” và “chỉ làm vui lòng một mình Người”, là cách diễn dịch đơn giản các mục tiêu được Chúa Giê-su chỉ ra trong “Bài giảng trên núi”: một sự công chính cao hơn sự công chính của các kinh sư và người Pha-ri-sêu (Mt 5,20); trở nên hoàn thiện “cũng như Cha Trên trời là Đấng hoàn thiện” (5,48), làm việc lành không phải cho người ta thấy, nhưng cho Thiên Chúa thấy (6,1-18), tích trữ kho tàng trên trời (6,19-21), không làm tôi hai chủ (6,24), v.v…

Trong nhiều hình ảnh nghệ thuật tái hiện cảnh “bài giảng trên núi”, Chúa Giê-su đưa ánh mắt nhân từ nhìn đám đông và giơ ngón tay lên trời như muốn nói: Hãy nâng tâm hồn lên! Hướng trái tim lên cao! Sự chú ý hướng lên cao mang tính quyết định, hướng tới mục tiêu, tìm thấy sự phản chiếu đơn giản và rõ ràng nơi Maria Mazzarello. Sơ Piera Cavaglià đã mô tả rất hay về điều đó: “Không có lá thư nào lại không hướng lên cao trong con tim rung nhịp bừng cháy của Maria Mazzarello. Chúng tôi luôn cảm thấy Mẹ hướng tới những lý tưởng vĩ đại và cao cả, do đó, ngay cả khi Mẹ viết, Mẹ liên tục chỉ ra những cột mốc mới. Mẹ không hài lòng với những vị trí mà mình đã đạt được, ngay cả khi Mẹ biết chấp nhận bản thân và những người khác một cách thực tế”.428 Nếu chúng ta tiến hành so sánh từng mối phúc với cuộc đời của Maria Mazzarello, sẽ không khó để tìm thấy nét phác họa rõ ràng nơi Mẹ về tinh thần khó nghèo, tâm hồn trong sạch, nhu mì và nhân từ, người kiến tạo hòa bình, người đói khát công lý, người đau khổ trước sự hiện diện của cái ác đi ngược lại với Nước Chúa. Xin mời bạn đọc hãy khám phá về những điều đó.


Chú thích

425 Fabris Rinaldo, Matteo. Traduzione e commento, Roma, Borla 1982, 110.

426 Ravasi Gianfranco, Le Beatitudini. Il più grande discorso all’umanità di ogni tempo, Milano, Mondadori 2016, 4.

427 Origene, Commento su Luca, 38, 2.

428 Cavaglià Piera, La riscoperta di un volto: un’educatrice e una maestra di vita, trong La sapienza della vita 50.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026