Chương 1 - Một thoáng nhìn về “dòng chảy” của Kinh Thánh trong lịch sử Giáo hội
Ha Fong Maria KO*
Những ai từng đến thăm nơi Thánh nữ Maria Domenica Mazzarello đã sống - 41 năm tại Mornese và 3 năm cuối đời tại Nizza Monferrato - sẽ không tìm thấy bất kỳ bản văn Kinh Thánh nào trong các di vật được trưng bày của Thánh nữ, cả một vài đoạn trích cũng không. Điều này có thể làm chúng ta ngạc nhiên, vì ngày nay, chúng ta đã quen với việc dễ dàng tiếp cận sách Kinh Thánh, vì chúng ta có sách Kinh Thánh, chúng ta trích dẫn Kinh Thánh, chúng ta phổ biến Kinh Thánh. Vào thời M. D. Mazzarello thì không như vậy. Vào thời ngài sống (1837 - 1881), cũng như thời của Cha Bosco (1815 - 1888), việc phổ biến và sử dụng Kinh Thánh thường xuyên là điều hoàn toàn không khả thi.
Để hiểu rõ hơn về thực tế nêu trên, chúng ta hãy thử nhìn lại sự hiện diện và tính năng động của Kinh Thánh trong Giáo hội dọc theo dòng lịch sử.3 Thánh Phao-lô cho chúng ta một hình ảnh thân thương của ngài, khi ngài yêu cầu cộng đoàn Thê-sa-lô-ni-ca cầu nguyện “để Lời Chúa được thông truyền và được tôn vinh”(2Tx 3,1). Vì vậy, việc đưa Lời Chúa vào những nẻo đường của thế giới là một “cuộc chạy đua” liên tục,4 nhiều khi nhanh chóng và quyết liệt, đôi khi chậm chạp và mệt mỏi. Thật vậy, Lời Chúa có sức năng động nội tại của nó, bởi vì Lời Chúa không chỉ là đối tượng của việc nghiên cứu, suy niệm, công bố và giảng dạy, mà còn là chủ thể hành động thực sự. Lời Chúa thì luôn “sống động và hữu hiệu”(Hr 4,12), nhanh nhạy (Tv 147,15), phát triển mạnh mẽ (Lc 8,11; Cv 19,20), dồi dào (Cl 3,16), chiếu sáng (Tv 119,105), sưởi ấm (Lc 24,32), giải khát (Đnl 8,3; Mt 4,4) và làm dịu cơn khát (Is 55,1-3), gây vết thương như con dao hai lưỡi (Hr 4,12), tràn ngập và biến đổi như lửa thiêu đốt hay như búa đập vỡ đá (Gr 23,29), chữa lành (Tv 107,20), tái sinh (1Pr 1,23) và ngập tràn niềm vui (Tv 119,162).
Sáng kiến “ngỏ lời” luôn là của Thiên Chúa. Thông tri luôn là ý muốn của Người. Thiên Chúa luôn luôn đi bước trước và thiết lập cuộc đối thoại. Đức Hồng y C. M. Martini viết: “Chính Thiên Chúa ngỏ lời, Thiên Chúa thực hiện phần mình, tỏ mình, hiến mình, nói, mời gọi, hứa hẹn, phán xét, ra lệnh, khuyên nhủ. Đức tin là phần của con người, là câu trả lời mà con người dành cho Thiên Chúa. Con người lắng nghe, đón nhận, tiếp thu, vâng phục, để mình được soi sáng, thu hút, được khích lệ, an ủi, được say mê Lời, mà qua đó, Thiên Chúa tự thông tri mầu nhiệm tình yêu của Người bằng cách mời gọi con người trở thành con của Người, trở thành người tham dự vào sự huyền nhiệm của Người mãi mãi”.5 Đây chính là hình thức nền tảng của cuộc đối thoại cứu độ giữa Thiên Chúa và con người, đã diễn ra trong thời Kinh Thánh và còn tiếp tục diễn ra trong suốt dòng lịch sử.
Với một hành trình dài và viễn ảnh lớn như thế thì cần một sự đơn giản hóa. Vì vậy, tôi xin tập trung vào các yếu tố thiết yếu, vì ý thức rằng không thể giới hạn một lịch sử phức tạp vào những lược đồ rõ ràng, đồng nhất.
1. Vào thời Giáo phụ
Trong suốt thời Ki-tô giáo cổ, tức thời của các Giáo phụ (thế kỷ II-VI), Kinh Thánh là cuốn sách nền tảng để đào luyện đức tin cho các tín hữu. Không có sách giáo lý hay sách cầu nguyện, cũng như không có các luận thuyết thực sự về thần học. Việc đào luyện người dự tòng, các bài giáo huấn thông thường cho tín hữu, bài giảng, phụng vụ, việc đào sâu đức tin, đời sống thiêng liêng: mọi sự được thực hiện trên nền tảng Sách Thánh. Đây là lý do tại sao khi “đọc các sách của các Giáo phụ cũng giống như đọc Kinh Thánh. Thánh Truyền, nền tảng mà các Giáo phụ dựa vào, không gì khác hơn là Kinh Thánh được đọc trong Giáo hội và bởi Giáo hội”.6
Các Giáo phụ thực sự làm như vậy bởi vì các ngài đã sinh ra chúng ta trong đức tin và còn dạy chúng ta bước theo Đức Ki-tô. Các ngài tạo nên móc xích đầu tiên nối kết Mặc khải với Truyền thống sống động của Giáo hội. Các ngài là những chứng nhân đặc biệt và là những người bảo đảm cho tính chân thực của đức tin. Các ngài chú giải phong phú về các Sách thánh và truyền bá kiến thức của các ngài trong và ngoài Giáo hội. Việc giải thích Kinh Thánh của các ngài, tuy không phải là không có giới hạn, nhưng các ngài cũng đã làm nổi bật được những chân lý trọng tâm và thiết yếu của Ki-tô giáo, cũng như trình bày căn tính đích thực của đạo công giáo.7 Suy tư Kinh Thánh của các ngài có một giá trị đặc biệt, nhờ lòng trung thành của các ngài với di sản mà các tông đồ và những người kế vị các tông đồ truyền lại, nhờ đời sống thánh thiện gương mẫu của các ngài, thường gắn với với triều thiên tử đạo và nhờ sự sát gần với nguồn cội của các ngài, không chỉ về niên đại lịch sử mà còn về văn hóa, tâm lý và tâm linh. Đức Pi-ô XII khẳng định điều đó trong tông thư Divino afflante Spiritu: tư tưởng của các Giáo phụ thấm nhuần bởi “một loại trực giác ngọt ngào về các thực tại trên trời và một sự thấm nhập thiêng liêng đáng trân quý, nhờ vậy, các ngài tiến xa hơn vào chiều sâu của lời thần thiêng”.8
2. Vào thời Trung cổ
Tính phong phú của sách Kinh Thánh tiếp tục thể hiện, cùng với những bước thăng trầm trong suốt thời kỳ phức tạp của thời Trung cổ (từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 15). Thật vậy, các bản văn thánh nuôi dưỡng mọi chiều kích của đời sống Giáo hội. Sách Kinh Thánh là nguồn mạch và là quy chuẩn không thể tranh cãi của mọi lĩnh vực suy tư, cử hành và hoạt động của Giáo hội. Không chỉ có thế, Kinh Thánh thâm nhập rộng rãi và có vị thế trong các lĩnh vực khác nhau của nền văn hóa. Kinh Thánh có mặt trong văn học, âm nhạc và nghệ thuật. Kinh Thánh là một nguồn hữu hiệu và đa đạng, để từ nó kín múc nhiều hình tượng, kiểu nói, các biểu tượng, châm ngôn, lời khôn ngoan, các ví dụ, chủ đề, sự kiện và nhân vật. Kinh Thánh là kho chứa đựng các biểu tượng và màu sắc, âm thanh và nhịp điệu. Vì là Lời của Thiên Chúa, nên Kinh Thánh được diễn tả với nhiều ngôn ngữ nhân loại đa dạng. Kinh Thánh không chỉ được đọc dưới dạng một bản văn viết, mà còn được nghe, được nhìn và được suy. Chẳng hạn, có thể nói đến quyển sách nổi tiếng “Bibliapauperum”, tức “Kinh Thánh dành cho người nghèo”, với những trình thuật trong Kinh Thánh được hình tượng hóa trên các cửa kính, trần tường và cổng vòm của các nhà thờ.
Không giống như bất kỳ cuốn sách nào khác, Kinh Thánh đi vào nhịp sống của đời thường, đi vào các nghi thức và phong tục dân gian, đi vào trong các ngày lễ và các buổi cử hành, trong các thông tri đơn giản và tự phát. Kinh Thánh được xem như mã nguồn, là “mật mã vĩ đại” của đa số nền văn hóa Tây phương.9
Sự phong phú của Kinh Thánh cũng chuyển thành lý thuyết của việc giải thích Kinh Thánh qua một số mẫu hình và phương pháp đọc Kinh Thánh. Lý thuyết về bốn tầng nghĩa được thành hình trong thời đại này được nhiều người biết đến: nghĩa văn tự, nghĩa ẩn dụ, nghĩa luân lý và nghĩa dẫn đường.10
Trong lĩnh vực thần học, phương pháp Suy niệm kinh viện (lectio scholastica) được phát triển: theo đó, bản văn Kinh Thánh chủ yếu được đọc để hỗ trợ và chuẩn nhận các ý tưởng hoặc hệ thống thần học. Tiến trình này có ưu điểm là đặt Kinh Thánh làm nền tảng cho việc suy tư thần học và tín lý, nhưng nó cũng có nguy cơ tạo sự xa rời bối cảnh lịch sử và văn hóa: thực tế là, một cách vô thức, việc chú giải Kinh Thánh dần trở thành các tiến trình ý tưởng hóa ngày càng phức tạp và thành những dẫn giải đôi khi hơi giả tạo về nghĩa ẩn dụ.
Về mặt tâm linh, sự phát triển của đời sống đan viện mở đường cho phương pháp Lectio Divina, tức cầu nguyện và suy ngẫm trên bản văn Kinh Thánh. Theo Guigo II, một tu sĩ dòng Xi-tô thuộc thế kỷ XII, phương pháp này diễn ra theo bốn nhịp, giống như bốn bậc thang đi lên: lectio - đọc, meditatio - suy,oratio - nguyện, contemplatio - ngắm. Ngài viết như sau: “Việc đọc là để tìm vị ngọt khôn tả của cuộc sống hồng phúc; việc suy gẫm là tìm thấy sự ngọt ngào ấy; việc cầu nguyện là để xin có được sự ngọt ngào đó; việc chiêm ngắm là để thưởng nếm sự ngọt ngào ấy. Việc đọc bản văn Kinh Thánh mang lại thức ăn bổ dưỡng cho miệng; việc suy niệm giúp nhai và nghiền thức ăn bổ dưỡng ấy; việc cầu nguyện giúp cảm nếm nguồn bổ dưỡng và việc chiêm niệm là làm cho chính hương vị bổ dưỡng này đong đầy niềm vui và làm tái sinh sức sống”.11
Vào thời Trung cổ, đây là một truyền thống rất hiệu quả, để biết đào sâu kho tàng Sách Thánh, để hướng dẫn nhiều đan sĩ và các Ki-tô hữu nỗ lực nên thánh. Truyền thống này vẫn được các Giáo hoàng thời nay cổ võ và khuyến khích,12 cũng như từ các Giám mục của Giáo hội địa phương và từ nhiều bậc thầy về đời sống thiêng liêng.
3. Vào thời Hiện đại
Thời kỳ hiện đại là thời kỳ mà chúng ta quan tâm nhất, bởi vì là thời mà Cha Bosco và Mẹ M. D. Mazzarello đã sống. Thời kỳ này nằm trong khoảng từ thế kỷ XVI đến XIX, với những thay đổi lớn trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hóa và tôn giáo. Chủ nghĩa nhân văn và thời Phục hưng, việc phát minh máy in, biến cố cải cách Tin lành, Công đồng Trento và phong trào chống cải cách, sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân, sự nhảy vọt về khoa học và công nghiệp, chủ nghĩa Khai sáng, Cách mạng Pháp: tất cả những biến cố và biến động này-một số xảy ra đồng thời, nhưng hầu hết đều có tương quan với nhau-tác động tích cực lẫn tiêu cực đến đời sống và sứ mệnh của Giáo hội, bao gồm cả cái nhìn về vai trò của Kinh Thánh trong việc truyền bá đức tin và đào luyện niềm tin Ki-tô giáo.13
- Chủ nghĩa nhân văn và thời Phục hưng đưa dẫn đến việc tái khám phá và đánh giá các bản văn cổ điển, do đó khuyến khích việc nghiên cứu các ngôn ngữ Kinh Thánh và sách Kinh Thánh trong ngôn ngữ gốc, đặc biệt chú ý đến văn chương và từ nguyên. Các ấn bản mang tính phê bình đầu tiên ra đời, chẳng hạn như ấn bản nổi tiếng về Tân Ước - ra đời năm 1516 - của Erasmus thành Rotterdam.
- Việc phát minh máy in14 mở ra nhiều cơ hội cho việc truyền bá sách Kinh Thánh, cho dù những hiệu quả của nó không phải là ngay lập tức, bởi độ công phu, tính phức tạp của việc in ấn cũng như chi phí khổng lồ cần có để in một văn bản đồ sộ gồm nhiều quyển như Kinh Thánh. Tuy nhiên, việc phát minh máy in vẫn mở ra một điều gì đó mới mẻ: đức tin Ki-tô giáo cho đến thời điểm trước vẫn được lưu truyền chủ yếu qua truyền khẩu, giờ đây có thể có một văn bản và được truyền đi, theo một lộ trình độc lập, thậm chí không được kiểm soát, sách Kinh Thánh có thể rơi vào tay của bất kỳ ai, có thể bị tách khỏi việc phụng tự và khỏi các lĩnh vực đào tạo của Giáo hội. Như vậy, việc phát minh máy in mở ra nhiều triển vọng, nhưng cũng gây ra một số lo ngại nhất định.
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa, từ thời đầu cho đến thời Trung cổ, việc chú giải Kinh Thánh, thần học, linh đạo và mục vụ cùng hợp thành một “tổng thể duy nhất”; thì giờ đây, với sự hình thành nền chú giải Kinh Thánh như một khoa học độc lập, tính tổng thể duy nhất dần bị phá vỡ, với nguy cơ của một chủ trương lĩnh vực hóa cứng nhắc, do đó, làm suy yếu mối tương quan giữa việc chú giải Kinh Thánh và các ngành thần học khác, giữa việc đào sâu Kinh Thánh và đời sống đức tin.
- Phong Trào Cải cách, một phong trào bắt đầu hình thành vào năm 1517, đã thay đổi diện mạo của Giáo hội. Martin Luther, với nguyên tắc “chỉ duy Kinh Thánh” muốn sửa chữa những sai lầm của Giáo hội và đặt Kinh Thánh làm trung tâm của đức tin Ki-tô giáo. Ông khẳng định nguồn gốc và chuẩn mực chân lý cho Giáo hội và cho từng Ki-tô hữu, chính là Kinh Thánh; chỉ có Kinh Thánh mà thôi, chứ không phải các tín điều, các giáo huấn của các nhà chức trách trong Giáo hội hay lý thuyết của các nhà thần học. Vì thế, Sách Thánh có thể được giải thích bởi mỗi tín hữu, dựa vào khả năng suy luận riêng, vào niềm tin nơi Chúa Giê-su Ki-tô và vào Chúa Thánh Thần, Đấng được lãnh nhận trong bí tích Thanh tẩy, Đấng linh hứng cho mọi tín hữu. Nguyên tắc trên của Luther bao hàm việc loại bỏ vai trò chuẩn mực của Truyền thống sống động của Giáo hội và nghịch lý thay, nó góp phần làm cho việc giải thích Kinh Thánh trở thành cơ hội cho những xung đột và chia rẽ.15 Một cách cực kỳ đơn giản có thể nói rằng, điều này tạo nên sự đối kháng cao độ giữa việc tuyệt đối hóa nguyên tắc “chỉ duy Kinh Thánh” của Phong trào Cải cách và niềm tin Công giáo dựa trên hai nguồn “Thánh Kinh và Thánh truyền”.
- Với Công đồng Trento (1545 - 1563), cũng có một trong các mục tiêu là chống lại Phong Trào Cải cách, Giáo hội đã đề xuất một thái độ hết sức thận trọng trong việc đọc Kinh Thánh của từng cá nhân. Trong sắc lệnh về “Qui điển Thánh Kinh”, được ban hành vào kỳ họp IV năm 1546, Công đồng tuyên bố: “Trong các vấn đề về đức tin và truyền thống, vốn là một phần của giáo lý Ki-tô giáo, không ai được phép bóp méo Kinh Thánh theo cách nghĩ riêng, trái với ý nghĩa đã được đưa ra và vẫn được đưa ra bởi Mẹ Giáo hội là đơn vị có quyền xác quyết ý nghĩa thực sự và quyền giải thích của Kinh Thánh; đồng thời, cũng không được đi ngược lại với sự nhất trí của Các nghị phụ”.16
- Những ảnh hưởng của việc tranh luận trong lãnh vực mục vụ-giáo lý và trong đời sống hàng ngày của các Ki-tô hữu rất nghiêm trọng. Dù rằng Công đồng khuyên “không nên bỏ qua kho tàng thiêng liêng cao cả mà Chúa Thánh Thần đã ban cho loài người với lòng quảng đại”,17 nhưng ý định đáng khen ngợi này đã bị vô hiệu hóa bởi sự dè dặt và thận trọng tối đa mà chính Công đồng thể hiện trong việc hạn chế việc dịch Kinh Thánh sang các ngôn ngữ bản địa. Tất nhiên, việc đọc văn bản bằng một ngôn ngữ có thể hiểu được là phương thế không thể thiếu để cho phép mọi người có thể tiếp cận Sách Kinh Thánh. Nếu không có bản dịch phù hợp, “kho tàng thiêng liêng của các Sách Thánh”, cách nào đó vẫn bị đóng băng và niêm kín. Vì thế, có sự xa cách dần của dân Chúa đối với Kinh Thánh, vì họ ngày càng hiểu ít hơn tiếng La-tinh của bản Vulgatevốn được xem là ấn bản đích thực của Sách Thánh. Tình cảnh này được gọi chung bằng biệt ngữ “thời lưu đày của Lời”. Tuy nhiên, trong thực tế, Lời Thiên Chúa không dễ dàng để mình bị lưu đày hay bị ngăn cản. Qua các trung gian và bằng hình thức âm thầm hơn, Kinh Thánh tiếp tục đến với các tín hữu qua phụng vụ, qua giáo lý, qua học đường, qua việc giảng thuyết và dưới nhiều hình thức sùng kính và cầu nguyện khác nhau. Các phương thức mục vụ Kinh Thánh gián tiếp - thông qua nghệ thuật, âm nhạc, sân khấu, đặc biệt là các “hoạt cảnh thánh” rất phổ biến vào thời điểm đó - đã được củng cố một cách sống động và sáng tạo. Kinh Thánh tiếp tục thấm nhuần vào văn hóa, như một sợi chỉ bền vững, giúp nâng đỡ, nuôi dưỡng và làm đẹp cho nền văn hóa. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng việc tiếp cận trực tiếp với Bản văn thánh là không thể thay thế được: các hình thức gián tiếp và qua trung gian, dù hiệu quả đến đâu, cũng không thể tránh khỏi nguy cơ tiếp nhận Sách thánh cách rời rạc, mơ hồ, không theo trình tự ý tưởng lẫn thời gian, không đi vào chiều sâu của mặc khải thánh. Khi không có sự tiếp xúc cá nhân với Kinh Thánh của các tín hữu, thì cũng thiếu cả động lực để hàng giáo sĩ hiểu biết sâu sắc về Kinh Thánh.
- Một phương tiện hữu hiệu trong việc giáo dục đức tin là dạy giáo lý dựa trên sách giáo lý. Đó là một sáng kiến sư phạm-mục vụ ưu việt xuất phát từ Công đồng Trento và kéo dài cho đến ngày nay. Tuy nhiên, hình thức giảng dạy này, với cấu trúc có hệ thống về chân lý đức tin, tự nó là rất tốt, nhưng không phải lúc nào cũng giúp ích nhiều cho việc thăng tiến sự hiểu biết Sách Thánh. Sách giáo lý thường thay thế cho sách Kinh Thánh, vốn không còn là cuốn sách ưu tiên hàng đầu trong số các sách đức tin, nhưng chỉ là sách đi đầu trong các tài liệu hỗ trợ, để từ đó có thể, rút tỉa nội dung giải thích hoặc minh họa cho giáo lý. Trong việc sử dụng Kinh Thánh, khía cạnh giáo điều hoặc ý hướng ứng dụng chiếm ưu thế hơn, chỉ có một vài chú giải được cập nhật.
Người ta đến với Kinh Thánh trên hết là để tìm ra những biện chứng mang tính giáo điều hoặc các tài liệu để làm phong phú thêm việc dạy giáo lý và hay việc thuyết giảng. Từ đây phát sinh nguy cơ đảo ngược vị thế của Sách Kinh Thánh: xưa thì giáo lý tín điều phải phục vụ và qui chiếu về Kinh Thánh, nay thì Kinh Thánh phải phục vụ và qui hướng về việc dạy giáo lý.18
- Các lệnh cấm do Công đồng Tren-tô phê chuẩn kéo trong một thời gian dài; chỉ đến năm 1757 thì Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XIV mới cho phép dịch Kinh Thánh sang ngôn ngữ bản địa, với điều kiện chúng phải được chuẩn nhận bởi Tòa thánh. Vì vậy, cánh cửa cho phép đọc Kinh Thánh bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau được mở ra, và như thế, cuộc gặp gỡ trực tiếp và cá nhân với Kinh Thánh được tạo điều kiện thuận lợi hơn trước. Bước ngoặt này tạo nhiều cơ hội cho sự ra đời của các bản dịch. Ở Ý, Antonio Martini, Tổng Giám mục tương lai của Firenze, đầu tư cho một bản dịch từ bản Vulgatevà ngài đã xuất bản, từ năm 1769 đến 1781, một công trình đồ sộ gồm hai mươi ba tập, với phần dẫn nhập cho mỗi quyển Sách Thánh, với các ghi chú về thần học-lịch sử và mục vụ, cùng với nhiều trích dẫn từ các giáo phụ. Công trình dịch thuật với sức lan tỏa lớn đã làm nên lịch sử và vẫn được sử dụng trong nhiều thế kỷ sau, được các giáo sĩ đánh giá cao trong việc chăm sóc các linh hồn. Đây là quyển Kinh Thánh mà Cha Bosco có trong tay, và ngài định nghĩa đó là “một trong những nghiên cứu đẹp nhất người ta có thể thực hiện dựa trên Kinh Thánh”.19
- Trong bầu khí văn hóa của thời kỳ Khai Sáng (thế kỷ XVII - XVIII), các phương pháp chú giải và diễn giải mới đã được phát triển, nhằm mục đích tái cấu trúc một cách “có phê phán” lịch sử hình thành các bản văn và các Sách thánh. Trong thế kỷ XVIII - XIX, các định hướng khác nhau của các học giả về bản văn Kinh Thánh được tích hợp trong một hướng với cách gọi là phương pháp phê bình-lịch sử. “Đây là một phương pháp mang tính lịch sử, không chỉ bởi vì nó áp dụng cho các văn bản cổ - trong trường hợp của chúng ta là sách Kinh Thánh - và việc nghiên cứu ý nghĩa lịch sử của chúng, mà còn và trên hết, bởi vì phương pháp này tìm cách làm sáng tỏ các quá trình lịch sử tạo ra các văn bản Kinh Thánh, kể cả các quá trình thuộc các niên đại phức tạp và lâu dài […]. Đây là một phương pháp phê bình, bởi vì nó vận hành với sự trợ giúp của các tiêu chuẩn khoa học càng khách quan càng tốt ở từng giai đoạn lịch sử của nó”.20 Việc sử dụng phương pháp này có những hạn chế, nhất là vì nó chỉ giới hạn trong việc tìm kiếm ý nghĩa của bản văn Kinh Thánh trong hoàn cảnh lịch sử của việc biên soạn ra nó, mà không xem xét đầy đủ những tiềm năng khác về ý nghĩa được biểu lộ trong quá trình của những thời kỳ sau đó của lịch sử của Giáo hội.21 Cần ghi nhớ kỹ bản chất độc đáo của Kinh Thánh, là Lời hằng sống của Thiên Chúa được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, một cuốn sách được Chúa Thánh Thần linh hứng, một cuốn sách đức tin được ủy thác cho Giáo hội. Cần tuân theo phân tích khoa học, nhưng không có phương pháp nào có thể phát huy hết sự phong phú đa diện của sách Kinh Thánh. Không thể phủ nhận phương pháp phê bình-lịch sử đã mở ra những chân trời mới cho việc hiểu Kinh Thánh, góp phần tạo nên những công trình chú giải khoa học và thần học Kinh Thánh có giá trị lớn, tuy nhiên, sức sống của phương pháp khoa học này chưa có nhiều ảnh hưởng trong lĩnh vực mục vụ và trong đời sống của những tín hữu bình dân.
- Một lĩnh vực không thể bỏ qua là linh đạo Ki-tô giáo. Hoa trái phát sinh từ Lời Chúa có thể được thấy không chỉ trong tiến trình giải thích Kinh Thánh và trong việc dấn thân mục vụ, mà phần lớn còn trong chứng từ của các thánh và các bậc thầy thiêng liêng, những người hội nhập những sứ điệp Kinh Thánh vào trong đời sống của họ. Cesare Bissoli nói: “Các thánh, những người của Thiên Chúa thực sự là những nhà lãnh đạo tinh thần của thời đại, theo nghĩa hẹp của đời thần nghiệm và nghĩa rộng của hành động chức thánh, các ngài là các trung gian dứt khoát và sống động, là những chứng nhân sống động của Lời Chúa. Một sự tiếp xúc trực tiếp đối nghịch với Sách Thánh hay cả những dòng tư tưởng nghèo nàn của một số bài giáo lý hay giảng thuyết về Kinh Thánh thì không thể mang lại hiệu quả này”.22 Thế kỷ mà Cha Bosco và Mẹ Mazzarello đã sống, không có những diện mạo độc đáo và hết sức nổi bật trong lĩnh vực linh đạo. “Thế kỷ 19 không biết đến một tên tuổi như của Tê-rê-sa A-vi-la, hay như của Gio-an Thánh Giá [ …]. Nền tảng thần học và tâm linh [...] vẫn là nguồn linh đạo của các thế kỷ trước”.23 Tuy nhiên, đây lại là một thế kỷ được chúc phúc bởi hồng ân của biết bao vị thánh, các đấng sáng lập nam - nữ của các dòng tu, các giám mục, linh mục và giáo dân, những người đã mang lại sức sống cho thời đại này và đặt nền móng cho sự đổi mới của thế kỷ tiếp theo.
4. Vào thế kỷ XX
Tình trạng đánh giá thấp Kinh Thánh dần thay đổi, “vì đối với lịch sử của sách Kinh Thánh thì không tồn tại những “thế kỷ đen tối”, mà chỉ là những giai đoạn chuyển tiếp hay chuyển hóa để đợi chờ những sự phát triển hạnh phúc hơn”.24 Thật vậy, thời kỳ hạnh phúc đã không đến chậm. Năm 1892, Đức Lê-ô XIII với thông điệp Providentissimus Deus25 tạo động lực mới cho việc học hỏi Kinh Thánh. Đức Bê-nê-đic-tô XV trong thông điệp Spiritus Paraclitus26 năm 1920 - được viết nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày mất của thánh Gi-rô-la-mô, lặp lại những lời khuyên của thánh nhân về việc siêng năng đọc Kinh Thánh, đặc biệt là Tân Ước.
Vào năm 1943, với thông điệp Divino afflante Spiritu27 Đức Pi-ô XII khuyến nghị sử dụng mọi phương tiện để thúc đẩy giữa những người Công giáo, tình yêu và sự hiểu biết đối với Kinh Thánh, cũng như việc phổ biến và thói quen đọc Sách Thánh hàng ngày. Đây là những tài liệu nền tảng giúp dần dần đặt sách Kinh Thánh vào trung tâm đời sống của Giáo hội và trao Kinh Thánh vào tay các tín hữu.
“Sự phục hưng Kinh Thánh” hay “sự thức tỉnh Kinh Thánh” cùng với phong trào phụng vụ và việc tái khám phá truyền thống Giáo phụ, tạo nên một năng động lực đầy hiệu quả trong nửa đầu thế kỷ XX và chuẩn bị đất cho hồng ân ngoại thường của Thiên Chúa là Công đồng Vatican II (1962 - 1965). Nhận thức về vai trò trung tâm của Lời Chúa không chỉ xuất hiện trong 16 văn kiện, mà còn trong kinh nghiệm sống của các nghị phụ Công đồng. Điều nổi bật là nghi thức suy tôn Sách Tin Mừng vào giờ khai mạc các phiên họp. Tin Mừng được đặt trên ngai cao để chủ tọa Công đồng, soi sáng cho các cuộc thảo luận và những quyết định của các nghị phụ. Hành động suy tôn Lời này chắc chắn đánh động tâm hồn của các nghị phụ Công đồng.28
Với ý định “làm cho Giáo hội của thế kỷ XX ngày càng thích hợp hơn cho việc loan báo Tin Mừng”29 thông qua Hiến chế tín lý Dei Verbum, Công đồng đề nghị các lãnh vực khác nhau của đời sống Giáo hội qui hướng về Lời Chúa:
- Phụng vụ: Giáo hội, trong các cử hành phụng vụ, “được nuôi dưỡng bởi Bánh sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa” (DV 21) và mở ra cho các tín hữu “kho tàng Lời Chúa” (SC 51; x. DV 25).
- Việc giảng thuyết: “phải được nuôi dưỡng và vận hành bởi Kinh Thánh” (DV 21).
- Thần học: dựa trên “Lời Chúa như nền tảng vĩnh hằng” và việc nghiên cứu Kinh Thánh được xem như “linh hồn của thần học” (DV 24).
- Cuộc sống hàng ngày: các mục tử phải vun trồng việc “tiếp xúc liên lỉ với Kinh Thánh”, các tín hữu làm quen với Kinh Thánh để được thấm nhuần tinh thần của Kinh Thánh (x.DV 25) và các tu sĩ “hằng ngày có Sách Thánh trong tay, để nhờ đọc và suy niệm Sách thánh có thể học được ‘khoa học thần thiên của Chúa Giê-su Ki-tô” (Pl3,8), (PC 6). Đối với toàn thể Giáo hội, Lời Chúa được diễn tả trong Sách Thánh là “nền tảng vững vàng của đức tin, là lương thực nuôi dưỡng linh hồn, là nguồn mạch tinh tuyền và trường tồn của đời sống thiêng liêng” (DV 21).
Công đồng Vatican II đảm nhận và củng cố những nỗ lực của các thập kỷ trước nhằm đưa Sách Thánh trở lại trong tay mọi Ki-tô hữu, để Sách Thánh có thể trở thành một kim chỉ nam chắc chắn trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Đây là một bước đi không thể đảo ngược, một khởi điểm không thể trở lui, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, cho thấy sự tự nhận thức sâu sắc của Giáo hội đã được diễn dịch bằng một sự đổi mới phong phú. Sau sự phân mảnh trong các bộ môn thần học và của các lĩnh vực của đời sống Giáo hội, nảy sinh nhu cầu tái hòa nhập tất cả trong một tổng hợp mới, để kiến tạo lại sự thống nhất xung quanh Lời Chúa.
Để chuẩn bị cho Đại Năm Thánh của thiên niên kỷ thứ hai và nhìn lại thế kỷ sắp trôi qua, Đức Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II nhìn thấy nơi Công đồng Vatican một biến cố ân sủng đầy quan phòng: “Thực vậy, đó là một Công đồng tương tự như các Công đồng trước đây nhưng cũng rất khác; một Công đồng tập trung vào mầu nhiệm Đức Ki-tô và vào Giáo hội của Người, đồng thời mở ra cho thế giới. Sự cởi mở này là một đáp trả Tin Mừng cho sự phát triển gần đây của thế giới, với những trải nghiệm đáng kinh ngạc của thế kỷ XX”.30 Trong “việc xét mình” mà ngài đề xuất với toàn thể Giáo hội vào cuối thiên niên kỷ thứ hai, có một điểm quan trọng liên quan đến việc tiếp nhận đường hướng của Công đồng. Trong số những câu hỏi mà Giáo hội phải tự chất vấn mình, câu đầu tiên là: “Ở mức độ nào, Lời Chúa đã trở thành linh hồn của thần học và là nguồn cảm hứng cho toàn bộ sự tồn tại của Ki-tô giáo như Dei Verbum đề xuất?”31 Có thể thấy rằng, ngay cả ngày nay, Giáo hội thấy mình đang đi theo con đường mà Công đồng vạch ra với không ít vất vả và khó khăn, đồng thời kết quả của các nỗ lực không phải lúc nào cũng lý tưởng. Một mặt, việc chú giải sách Kinh Thánh tiếp tục tiến triển. Việc phân tích bản văn theo khía cạnh lịch sử, văn chương cũng như việc xem xét bối cảnh văn hóa, xã hội của bản văn ngày càng xác đáng. Điều này có nghĩa là việc chú tâm đến chiều kích nhân văn của sách Kinh Thánh ngày càng sắc nét; tuy nhiên, chiều kích thần học, Giáo hội của Sách Thánh lại còn bị chìm trong bóng tối. Cụ thể trong văn hóa phương Tây, Sách Thánh thường được coi như một sách “cổ điển” như bao sách khác, nên cũng được xem xét bằng nhiều phương pháp nghiên cứu đa dạng, được cập nhật không ngừng. Thật vậy, Sách Thánh được nghiên cứu nhiều hơn về tính văn hóa như một đối tượng phân tích hơn là như một chủ thể vận hành. Vị trí trung tâm của Lời Chúa trong đời sống của Giáo hội và của cá nhân người Ki-tô hữu được xác nhận một cách chính thức, nhưng vẫn còn là một mục tiêu cần đạt tới cách hiệu quả và đầy đủ. Vẫn còn đó một hành trình đầy khó nhọc và một chặng đường dài để đi.
Vào thế kỷ XXI, Chúa Thánh Thần tiếp tục hoạt động trong Giáo hội, thúc giục Giáo hội trở về trung tâm và tìm lại nguồn gốc của mình, tái khám phá Đức Ki-tô với niềm xác tín vững chắc rằng đây chính là điều làm trẻ hóa Giáo hội và sẽ mang lại một sự đổi mới trong thời đại đầy thăng trầm, phức tạp của chúng ta, đồng thời cũng là một thời đại đầy phong phú và nhiều hứa hẹn về những điều tốt đẹp. Chúa Thánh Thần lên tiếng qua nhiều sự kiện: Thượng Hội Đồng Giám Mục về “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Giáo hội” (2008); Tông huấn Verbum Domini (2010); huấn quyền của các Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Bê-nê-đic-tô XVI và Phan-xi-cô, là những giáo huấn thấm nhuần Lời Chúa và quyết tâm đặt sứ điệp Kinh Thánh ở trung tâm đời sống của Giáo hội thuộc mọi cấp độ; việc thiết lập Chúa Nhật của Lời Chúa với lá thư Aperuit Illis (2019) của Đức Phan-xi-cô. Những sự kiện này và các sự kiện khác của Giáo hội ghi dấu cách rõ ràng hành trình của Giáo hội trong thế giới đương đại.
Trong Gia đình Sa-lê-diêng, cách riêng trong Hội dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, Công Đồng Vatican II là một “Lễ Hiện Xuống mới”32 mang lại nhiều hoa trái. Lời kêu gọi đến sự “trung thành kép” - với Tin Mừng và với các Đấng Sáng lập - do Công đồng phát động làm cho Hội dòng trưởng thành trong ý thức về sức mạnh của Lời Chúa, nhờ đó tạo ra những năng lượng mới trong đời sống thiêng liêng, tạo nên sức mạnh của sự hiệp thông và tính sáng tạo trong chứng tá truyền giáo. Từ các ấn bản của Hội Dòng trong những năm từ Công đồng Vatican II cho đến ngày nay, cũng như từ một số sáng kiến do Trung tâm Nghiên cứu của Hội dòng thực hiện, có thể vạch ra một đường lối rõ ràng về sự hội nhập hài hòa và tiệm tiến giữa Lời Chúa và ơn gọi của người FMA: trưởng thành hơn niềm xác tín rằng tình yêu dành cho Lời Chúa là một phần của cấu trúc nội tâm của người FMA, vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, việc tham dự Lời Chúa ngày càng mãnh liệt và sâu sắc hơn.33
Tôi xin kết thúc bằng cụm từ Kinh Thánh mà Hiến chế Dei Verbum đã dùng: “Lời Chúa đời đời bền vững”(Is 40,8; 1Pr 1,23-25 trong DV 26). Đây là một tuyên bố rõ ràng đầy niềm tin và hy vọng. Lịch sử nhân loại có những lúc thăng trầm, đầy ngẫu nhiên và chóng qua, nhưng Lời Chúa thì trường tồn, hiện diện trong thời gian và không gian, luôn năng động và hữu hiệu, không ngừng hướng dẫn bước đi của con người và của thế giới. Thật thú vị khi nhận ra rằng Đức Bê-nê-đic-tô XVI đã khơi gợi lại chính bản văn Kinh Thánh này trong phần nhập đề lẫn phần kết của tông huấn Verbum Domini (VD 1 và 124). Có một sự liên tục trong niềm hy vọng và sự rộng mở của Giáo hội lữ hành, một Giáo hội đặt niềm tin tưởng nơi Lời Chúa không hề qua đi và không bao giờ tàn lụi.
Chú thích
*Ha Fong Maria KO, FMA người Trung Hoa, nguyên Giáo sư về Kinh Thánh tại Phân Khoa Giáo Hoàng về Khoa Học Giáo Dục “Auxilium", Roma.
3 Các tác phẩm sáng giá có liên quan đến đề tài có thể kể đến: Reventlow Henning Graf, Storia dell’Interpretazione biblica, 4 tập, Piemme, Casale Monferrato 1999 - 2004; các tập của bộ sách “La Bibbia nella storia”, Bologna, EDB; Norelli Enrico (biên tập), La Bibbia nell’antichità cristiana I. Da Gesù a Origene, 1993; Cremascoli Giuseppe - Leonardo Di Claudio,La Bibbia nel Medioevo, 1996; Fabris Rinaldo, La Bibbia nell’epoca moderna e contemporanea, 1992.
4 Hình ảnh “cuộc chạy” của Lời Chúa được dùng nhiều lần trong Lu-ca: Cv 6,7;12,24; 13,49; 19,20; và cũng không thiếu trong các Thánh Vịnh, chẳng hạn Tv 147,15: Lời của Chúa “hỏa tốc chạy đi”.
5 Martini Carlo Maria, Parole sulla Chiesa. Meditazioni sul Vaticano II per i laici dei Consigli Pastorali, Milano, Ed. Centro Ambrosiano 1986, 38.
6 Cantalamessa Raniero dẫn nhập cho sách: Gandolfo Emilio (biên tập), Lettera di Dio agli uomini. Le più belle pagine dei Padri della Chiesa, Casale Monferrato (AL), Piemme 1990, 8.
7 Đc SACRA CONGREGAZIONE PER L’EDUCAZIONE CATTOLICA,Istruzione sullo studio dei padri della Chiesa, s.18 - 29.
8 Pio XII, Divino afflante Spiritu, 1943, trong Enchiridion Biblicum, Bologna, EDB, s.554.
9 Thuật ngữ của William Blake lấy từ FRYE Northrop,The Great Code. The Bibleand Literature, London, 1982. (bản dịch tiếng Ý: Il grande codice. La Bibbia e la letteratura, Torino, Einaudi 1986).
10 Một câu thơ [tiếng La-tinh] của thời đó gồm tóm bốn nghĩa như sau: Littera gesta docet, quid credas allegoria, Moralis quid agas, quo tendas anagogia: “Nghĩa văn tự dạy về biến cố, nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, nghĩa luân lý dạy điều phải làm, nghĩa dẫn đường dạy điều phải vươn tới”. Đc GIÁO LÝ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, s.115 - 118.
11 Guigo II,Scala claustralium, ss.2 - 3.
12 Đức Gio-an Phao-lô II viết trong Tông thư Ngàn năm thứ 3: “Điều cần thiết là việc lắng nghe Lời Chúa trở thành một cuộc gặp gỡ sống động, theo truyền thống cổ xưa và vẫn còn giá trị. Lectio Divina cho phép chúng ta nắm bắt được trong bản văn Kinh Thánh Lời hằng sống luôn thách thức, hướng dẫn, hình thành nên sự hiện hữu” (số 39). Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI dành hai đoạn văn dài (s.86-87) cho Lectio Divina trong Tông huấn Verbum Domini. Ngài nhiệt liệt mời gọi thực hành Lectio Divina để đổi mới đời sống Giáo hội: “Tôi muốn trước hết gợi lên và giới thiệu truyền thống cổ xưa về việc thực hành Lectio Divina[...]. Nếu việc thực hành này được phát huy hiệu quả, tôi tin chắc nó sẽ mang lại cho Giáo hội một mùa xuân thiêng liêng mới. Do đó, việc chăm sóc mục vụ Kinh Thánh phải đặc biệt nhấn mạnh đến Lectio Divina và thúc đẩy việc làm này thông qua các phương pháp mới, được phát triển cẩn thận và phù hợp với thời đại của chúng ta” (Thông điệp gửi đến những người tham gia Đại hội Quốc tế về Kinh Thánh trong đời sống Giáo hội, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ban hành Dei Verbum, Roma, 14 - 18 tháng 9 năm 2005). Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đề nghị cùng một điều trên trong Tông huấn Evangelii Gaudium số 152: “Có một cách cụ thể để lắng nghe điều Chúa muốn nói với chúng ta nơi Lời của Người và để cho mình được biến đổi bởi Thần Khí, đó là những gì chúng ta gọi là “Lectio Divina”. Điều này hệ tại ở việc đọc Lời Chúa trong giây phút cầu nguyện để Lời ấy soi sáng và đổi mới chúng ta”.
13 Một phần tóm kết rõ ràng về tương quan giữa Kinh Thánh và đời sống Ki-tô giáo trong giai đoạn này có thể tìm trong: Bissoli Cesare,La Bibbia nella chiesa e tra i cristiani, trong Fabris Rinaldo (biên tập), La Bibbia nell’epoca moderna e contemporanea, Bologna, Dehoniane 1992, 147-183. Có thể tham khảo thêm: Bissoli Cesare, “Va e annuncia” (Mc5,19) trong Manuale di catechesi biblica, Leumann (TO), Elledici 2006, 27-58.
14 Kinh thánh là cuốn sách đầu tiên được in ở châu Âu bằng kỹ thuật sắp chữ cái rời, được phát minh năm 1455 bởi thợ in Johannes Gutenberg.
15 Đc Pesce Mauro, La Bibbia come luogo di divisione: un paradosso nella storia del cristianesimo, trong La Bibbia lacerata. L’interpretazione delle Scritture cammino di unione tra i cristiani, Milano, Ancora 2002, 35-55.
16 Công Đồng Tren-Tô, Sắc lệnh về Thánh kinh, Khóa IV. 8 tháng 4, 1546, trong Enchiridion Biblicums. 62.
17 Công đồng Tren-Tô, Sắc lệnh về bài dạy và bài giảng, Khóa V. 17 tháng sáu, 1546, trong Enchiridion Biblicums. 65.
18 Đc Bissoli Cesare,La Bibbia nella chiesa e tra i cristiani, 155-156.
19 MBIX 709. Tk Wirth Morand, La Bibbia con Don Bosco. Una lectio divina salesiana. I. L’Antico Testamento, Roma, LAS 2009, 20.
20 Pontificia Commissione Biblica, Việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội, I. A.2.
21 Đc Nt I. A. 4; tk Neri Umberto, La crisi biblica dell’età moderna. Problemi e prospettive, Bologna, EDB 1996.
22 Bissoli Cesare, La Bibbia nella chiesa e tra i cristiani, 170.
23 Stella Pietro, Don Bosco nella storia della religiosità cattolica, II. Mentalità religiosa e spiritualità, Roma, LAS2 1981, 505.
24 Nt148.
25 Enchiridion Biblicums.81-134.
26 Nts.440-495.
27 Nts.538-569.
28 Cảnh tượng này khiến nhà thần học Cải cách nổi tiếng Karl Barth cảm động, ông nhận xét: “Nghi thức này nói lên điều gì? Quyển Tin Mừng cũ được mở ra trước mặt mọi người, trở thành trung tâm ánh nhìn của các giám mục và các quan sát viên quy tụ tại Đền Thờ Thánh Phê-rô nhân dịp khai mạc Công đồng, nó hoàn toàn khác với một thiết bị sân khấu hay một vật trang trí phụng vụ”: Barth Karl, Những suy tư về Công đồng Vatican II, Genève, Labour et Fides 1963,13.
29 Evangelii Nuntiandi2.
30 Tertio Millennio Adveniente18.
31 Nt36.
32 Thành ngữ này được Đức Gio-an XXIII sử dụng nhiều lần, lần đầu tiên trong Sắc lệnh của Công đồng Humanae Salutis, 25-12-1961, 23.
33 Đc Ko Ha Fong Maria, La Parola di Dio guida i passi dell’Istituto, trong Cùng tác giả (biên tập), La forza delle radici, La Parola di Dio nel Progetto di vita delle Figlie di Maria Ausiliatrice, Teramo, Palumbi 2021, 56-72.