FMA Logo

Chương 2 - Kinh thánh và đời sống tu trì vào thế kỷ XIX



Grazia LOPARCO*

1. Một vài tiền đề

Đời sống tu trì được sinh ra từ Tin Mừng, từ con người của Chúa Giê-su thành Na-da-rét, Đấng luôn mời gọi tiếp bước theo Người cách trọn vẹn. Đời tu được thành hình trong đời sống cá nhân với những điều kiện lịch sử cần thiết. Thực ra, những cách diễn tả về đời sống tu trì đã thay đổi theo thời gian, đan xen giữa ý tưởng ly thoát khỏi thế gian (đời ẩn tu, đan viện…) với ý tưởng hòa mình vào đời sống thành thị để rao giảng bằng việc làm chứng (các dòng hành khất); cũng có ý tưởng kết hợp đời tu với hoạt động tông đồ trong các bối cảnh của đạo Ki-tô thời cổ đại, thường bị tổn thương bởi các cuộc ly giáo hay trong các vùng đất của việc tân Phúc Âm hóa (các dòng hiện đại).

Đối với các giáo sĩ, việc học thần học bao hàm việc hiểu biết Sách Thánh bằng tiếng La-tinh, nhưng đối với những tu sĩ khác thì không như thế. Vào thời Trung cổ cho đến cuộc cách mạng Pháp, dẫu kinh nghiệm về đời sống tâm linh nở rộ, nhưng các “nữ tu thực thụ” vẫn không có quyền tự do đi lại. Lời khấn trọng thể và lời khấn vĩnh cư chứng minh cho việc “chết đi cho thế gian” của họ. Đối với các nữ đan sĩ - bị xem xét và quản lý nghiêm ngặt hơn sau chỉ thị Circa pastoralis (1566) của Đức Pi-ô V – thì một vài trích đoạn Lời Chúa được họ lựa chọn, được họ lưu giữ trong trí để sống trong các không gian kín của đan viện, trong các phòng kín và trong các ca đoàn phụng vụ, trong những khoảng thinh lặng suy gẫm và trong những công việc thủ công. Lời Chúa cũng là nền tảng của sự biện phân cho các mối tương quan trong cộng đoàn và với thế giới bên ngoài.

Vì đời sống tôn giáo trong Giáo hội Công giáo, đặc biệt là ở các quốc gia không bị ảnh hưởng bởi cuộc cải cách Tin lành, việc đọc trực tiếp bản văn Kinh Thánh vẫn là điều xa vời? Sau công đồng Trento, Giáo  hội đề cao tầm quan trọng của huấn quyền của vị mục tử, ngăn cấm những người giáo dân cắt nghĩa Lời Chúa hầu tránh những chia rẽ và hiểu lầm; thêm vào đó, chính nền thần học cũng kín múc nhiều từ giáo lý tín điều hơn là từ bản văn Lời Chúa.34

 Đời sống giáo xứ trở thành trọng tâm trong Giáo hội Công giáo. Linh mục quản xứ có nghĩa vụ chăm sóc linh hồn của các tín hữu, cổ cõ các việc đạo đức, việc thực hành bí tích và hoạt động bác ái, cũng như cung cấp kiến ​​thức nền tảng về giáo lý. Nhiều sách đạo đức, nhiều mẫu ảnh thánh có lời cầu nguyện, tuần cửu nhật và tam nhật, việc thực hành các ngày thứ sáu đầu tháng với tâm tình đền tạ và sám hối, tất cả đều nhấn mạnh đến một đức tin phải đi đôi với hành động và liên đới với người nghèo, để “lập công trạng” hầu hưởng phúc Thiên đàng. Việc rước Mình thánh Chúa được tính toán, việc hiệp lễ mùa Phục sinh được kiểm tra cẩn thận, các “hoa thiêng” và ân xá được định lượng.

Việc đào luyện luân lý thể hiện qua lối sống khổ hạnh tự nguyện. Lương tâm được giáo dục để hoàn thành bổn phận vì sợ những hình phạt công bằng đang chờ đợi những kẻ tội lỗi cứ tái phạm. Trái lại, nhờ tiếp xúc hàng ngày với những người dân nghèo và người gặp tuyệt vọng ở miền Nam nước Ý, thánh An-phong-sô Li-gô-ri đã cổ võ một nền đạo đức về lòng nhân hậu với dung mạo của một vị Thiên Chúa xót thương, nhằm điều chỉnh chủ trương xét nét luôn nhấn mạnh tính nghiêm khắc của sự công thẳng. Tòa thánh ủng hộ quan điểm quân bình này của thánh nhân qua việc phong thánh cho ngài vào năm 1839 (do Đức Grê-gô-ri-ô XVI) và tuyên bố ngài là Tiến sĩ Hội thánh vào năm 1871 (do Đức Pi-ô IX).

Đối với đa số tín hữu sống trong những hoàn cảnh khó khăn, họ quan niệm hạnh phúc chỉ có trên Thiên Đàng, nên họ không quan tâm đến việc thay đổi những bất công xã hội, mà chỉ buông theo kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa. Những người giàu tìm ơn cứu rỗi qua việc bố thí, những người nghèo thì ý thức thân phận của mình và cố gắng sống tốt nhất có thể, tránh những suy tưởng viễn vông, tránh tư thù. Các bài giảng thuyết thường nói về Tứ chung cho một cộng đoàn có độ tuổi trung bình khá thấp, do tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh hoặc ở người lớn cao, hay do các dịch bệnh gắn với cảnh nghèo đói. Tất cả điều này khiến con người ý thức hơn về sự mỏng giòn của cuộc sống và của những hứa hẹn hão huyền. Vào thế kỷ XIX, nhiều ơn gọi tu trì đã trưởng thành từ chính đời sống giáo xứ.

2. Lời Chúa trong đời sống các tín hữu tại Ý

Làm thế nào đời sống duy trì mối dây trực tiếp với Lời Chúa trong khi việc thực hành mục vụ và đời sống của các tín hữu dường như xa rời bản văn Sách Thánh?

Trong suốt thế kỷ XIX, ở Ý và ở nhiều nước Châu Âu khác, có một ​​sự phát triển nở rộ về đời sống tu trì, trong số đó, lần đầu tiên có cả những người nữ dấn thân tích cực vào việc tông đồ, vượt xa hơn các công việc bác ái. Số lượng của họ tăng lên, dù nền đào luyện đơn sơ, không khác lắm so với đời sống bình thường, vậy mà, nhiều con người thánh thiện lại trưởng thành trong cuộc sống đời thường ở Ý.

Sau thời gian Hiến pháp quốc gia được khai mào, bên cạnh đời sống tu trì truyền thống, chủ nghĩa thế tục cũng thâm nhập vào nhiều môi trường văn hóa và kinh tế tiên tiến nhất và từ từ lan tỏa chủ nghĩa thờ ơ, sự sao nhãng các việc đạo đức, cụ thể là việc khẳng định quyền tự do lương tâm và báo chí, việc giữ khoảng cách với những chức trách có quyền áp đặt các nghĩa vụ nhân danh Thiên Chúa. Với những ý tưởng này, phái tự do hạ bệ hoàn toàn chủ nghĩa chuyên chế của các vị vua, bằng cách khẳng định rằng quyền lực thì đến từ người dân, từ các công dân bỏ phiếu, cũng như bác bỏ việc phục tùng phẩm trật của Giáo hội. Thần học và đặc biệt là Giáo hội học hậu Công đồng Trento có xu hướng bảo tồn truyền thống nên đã gạt bỏ các viễn cảnh có thể ảnh hưởng đến thần học do những thay đổi của lịch sử. Những quan điểm bất đồng trong thời đó bị gạt ra ngoài lề hay bị đặt vào Danh mục cấm. Đời tu đã sống trong bối cảnh hộ giáo này.

Nền thần học tu đức, tách rời khỏi Huấn quyền, với phương pháp nghiên cứu phê bình lịch sử về Kinh Thánh, đã đặt vấn nạn về nhiều cách giải thích Kinh Thánh, trong khi đó, các chuyên luận được các giáo sĩ nghiên cứu tại chủng viện vẫn bám chặt vào các biểu thức cổ xưa, xa lạ với năng động lực khoa học vốn bị lên án ngang với chủ nghĩa hiện đại.

Việc giải thích Kinh Thánh mang tính nữ giới ra đời vào cuối thế kỷ XIX tại Hoa Kỳ trong bối cảnh văn hóa xã hội của cuộc đấu tranh về quyền phụ nữ. Thông qua một ủy ban duyệt xét lại Kinh Thánh, bản The Woman’s Bible đã được xuất bản thành hai tập,35 nhưng nó vẫn còn xa lạ đối với môi trường Công giáo.

Trong việc đào tạo giáo dân, dù họ bị loại khỏi việc nghiên cứu Kinh Thánh, phần đa các hiệp hội Công giáo thường kết hợp việc đào tạo với việc bác ái, như một sự phân biệt giữa hoạt động của người Ki-tô hữu với hoạt động từ thiện của người đời, khởi đi từ những động cơ và mục đích khác, từ chân trời ý nghĩa khác. Tình yêu Thiên Chúa là điều răn đầu tiên của những người đã rửa tội. Người đã rửa tội thể hiện tình yêu bằng sự quan tâm tới tha nhân, đặc biệt là những người có nhu cầu. Đây là ngôn từ có thể bắt nhận được từ cả những người không tin vào Thiên Chúa và không tín nhiệm các phẩm trật của Giáo hội, vì thế, việc bác ái trở thành phương tiện không thể thiếu để khôi phục uy tín cho đức tin.

Ở Ý, sự căng thẳng đã bùng nổ giữa Nhà nước tự do và Tòa thánh. Tòa thánh bị tước thẩm quyền trên Nước Giáo hoàng; điều này đã khiến người Công giáo xa rời các nỗ lực chính trị, nhất là sau khi Đức Pi-ô IX năm 1874 đã chỉ thị rằng đây là điều không tiện; tuy vậy, điều đó không khiến họ không quan tâm cũng không làm họ vắng bóng trong các cơ cấu xã hội. Thay vì dừng lại ở các cuộc luận chiến, thì việc bảo vệ các nguyên tắc Ki-tô giáo đã trở thành sáng kiến ​​​​tốt. Theo nghĩa này, việc hình thành và đào luyện trong các hiệp hội là rất quan trọng vì đã tạo thành một trung gian hiệu quả để qui tụ các nguồn lực nhằm không làm mất đi các giá trị Ki-tô giáo nơi người dân và nơi các tổ chức công cộng. Từ giữa thế kỷ XIX, nhiều hiệp hội giáo xứ, bao gồm cả hiệp hội nữ đã phát triển, trong đó có Hội Đạo đức của các Con Đức Mẹ Vô Nhiễm đã lan rộng từ Mornese đến Giê-nô-va, bao gồm các nữ giáo dân được thánh hiến giữa đời, được Cha Giuseppe Frassinetti xem như “những nữ tử muốn dâng mọi sự cho Chúa Giê-su”.36 Ngoài ra, thời đó, cũng có nhiều Nữ tử Đức Mẹ khác nữa. Từ hàng ngũ của họ, nhiều ơn gọi tu trì đã trưởng thành, việc họ dâng hy sinh cho việc tông đồ cho thấy một đức tin thực sự được nội tâm hóa. Các hiệp hội Công giáo với quy mô rộng lớn đã tạo điều kiện cho những người nữ thuộc lớp bình dân tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội với mối quan tâm rộng mở hơn, vượt qua sự cô lập. Về cơ bản, việc này góp phần giáo dục một quyền công dân “tiền-chính trị”, sẵn sàng chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, một cách tự do và tự nguyện, vượt ra ngoài ranh giới quốc gia.

3. Sự lan tràn Kinh Thánh trong các quần đảo

Với sự khoan dung tôn giáo được áp dụng tại Vương quốc Sardegna (có thủ đô là Torino) vào năm 1848 và tại các lãnh thổ còn lại của Ý vào năm 1861 - tức ngay sau biến cố Thống nhất đất nước - các bản văn Kinh Thánh Tin lành có thể lưu hành tự do, bởi vì, các bản văn bị Giáo hội kiểm duyệt và bị đưa vào Danh mục cấm do nhà nước trước kia, nay không còn hiệu nghiệm. Có khả năng là việc tuyên truyền đã tạo thuận lợi cho sự lưu hành bản văn tiếng Ý, gián tiếp là nhờ dựa vào cuộc đổi mới tôn giáo. Pietro Stella đề cập đến một vận may của bản văn Kinh Thánh ở Ý khi cho thấy một sự phổ biến nhất định sau khi tình hình đã thay đổi:

“Việc phổ biến Sách Thánh diễn ra do nhiều tác động: do việc chăm sóc đức tin để chống lại các cuộc tấn công của sự hoài nghi, thờ ơ, dị giáo; do bận tâm trước việc tuyên truyền của nhóm Tin lành, vì vậy ở Ý đã bắt đầu giới thiệu ấn bản Kinh Thánh của Giovanni Diodati. Từ năm 1802 đến năm 1860, có (ít nhất) 35 ấn bản hoàn chỉnh của Kinh Thánh do Antonio Martini dịch và chú thích; cũng như những ấn bản khác nhau của các Phúc Âm, Tân Ước hoặc Điển ngữ Kinh Thánh của chính Martini”.37

Tất nhiên, các tín hữu hay tu sĩ không có quyền tiếp cận trực tiếp với Sách Thánh là quyển chỉ được dùng để phục vụ cho việc phổ biến các sách giáo lý dưới sự kiểm soát của các trung gian đặc biệt của phẩm trật Giáo hội.38 Tuy nhiên, Kinh Thánh được biết đến với “những bản tóm tắt, những phụ chương, những giáo huấn luân lý, hay những bản văn rời về lịch sử thánh khởi đi từ ấn bản Toát yếu lịch sử của Cựu Ước và Tân Ước lấy từ Kinh Thánh của Bartolomeo Dionigi, được in lại nhiều lần, nhưng sau đó bị đưa vào Danh mục cấm năm 1678”.39 Trong bối cảnh của Ý, sách kể về Cuộc đời của Đức Ki-tô được giản lược cách thuần túy “vào việc chiêm ngắm mang tính huyền bí, khổ chế và đầy sùng mộ về ‘những mầu nhiệm’ của Người. Điều này được viết trong các ấn phẩm của Bartolomeo de’ Ricci (Considerationi sopra tutta la vita di N. S. GesùChristo, Roma 1610) và của Giovanni Battista Zecchini (Bản tóm tắt cuộc đời của Chúa Giê-su Ki-tô và của Đức Maria rất Thánh, Venice 1848)”.40

Trong những trường hợp ngoại lệ khác với não trạng chung về việc tiếp chạm Kinh Thánh, nổi bật là Chân phước Antonio Rosmini, sống vào nửa đầu thế kỷ của thế kỷ XIX (1797-1855), người đã cổ vũ một nền Ki-tô giáo được nuôi dưỡng bởi Kinh Thánh; và Cha Bosco, người luôn xác tín về giá trị luân lý và giáo dục của Kinh Thánh, xem đây là nguồn mạch của đời sống thiêng liêng và ơn gọi nên thánh.41 Ấn bản được phổ biến rộng của vị thánh đến từ Torino là cuốn Lịch sử thánh với các truyện ngắn và giai thoại được tuyển chọn, các lời bình giải kèm kèm theo chú thích và hình ảnh minh họa.42 Ngoài việc học quyển này trong tiến trình đào luyện, các FMA có thể đã giới thiệu cho các học sinh cùng với sách giáo lý.

Chính sự đánh giá dành cho thể loại bình dân này của Kinh Thánh đã đánh dấu một sự phân cách giữa các học giả dành sự chú tâm hơn vào các ngành khoa học Kinh Thánh và công chúng. Hơn nữa, điều này đã tạo ra một sự chậm trễ đáng tiếc trong việc chú giải Kinh Thánh so với các lĩnh vực khác của Giáo hội Công giáo, cũng như so với các công trình bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Đức; bởi lẽ, Giáo hội Ý chỉ dựa vào bản dịch Kinh Thánh Vulgata truyền thống và vào những giải thích của Huấn quyền với trích dẫn của các Giáo phụ.43

Kiên quyết trong tinh thần hộ giáo, các linh mục giáo xứ và báo chí Công giáo chú tâm cảnh báo các tín hữu thận trọng, đừng để mình bị thu hút và mất phương hướng bởi những luận điểm khác.44 Việc giáo dục tôn giáo thường được hiểu là sự tiếp thu thuần túy đối với một tập hợp các học thuyết do giáo quyền áp đặt.45

Lời Chúa được công bố và rao giảng bởi các thừa tác viên có chức thánh trong các giáo xứ và nguyện đường, nơi lối thực hành các tuần cửu nhật, tam nhật, các ngày thứ sáu đầu tháng ngày càng nở rộ; tuy nhiên, lại ít được tín hữu lắng nghe, nhất là nam giới, họ sống xa cách với việc thực hành đạo. Cũng có các kiểu truyền giáo theo định kỳ và vào mùa Chay ở thành phố và nông thôn, nơi mọi người sống cuộc sống hàng ngày của họ. Do bởi não trạng hiện đại mà Tin Mừng ít được tin theo qua các lời kể, nên dần chuyển qua một hình thức được tín nhiệm hơn là các việc bác ái cụ thể hay việc gặp gỡ những người sống và làm việc cho những cần giúp đỡ hơn. Do đó, sách giáo lý đến một cách trực tiếp hơn, đôi khi bằng những hội thoại ngắn kết hợp với những lời giải thích, minh họa bằng những cử chỉ quan tâm và bằng sáng kiến ​​mang Thiên Chúa - là Cha quan phòng - đến gần hơn với các biến cố của con người.46

4. Những âm hưởng của Kinh Thánh trong đời sống tu trì

Từ những nhận định trên, có thể tìm thấy những âm hưởng Kinh Thánh khác nhau giữa các đấng sáng lập với các vị có chức thánh - tức các linh mục và giám mục là những người được đào tạo thường xuyên hơn với Kinh Thánh - và những người nữ là những người chỉ tiếp chạm với các bản văn Lời Chúa qua các bài thuyết giảng, sách thiêng liêng, việc thực hành đạo đức, các bí tích, việc viếng và chầu Chúa Giê-su Thánh Thể, các lời nguyện tắt, kinh bổn, sách giáo lý, gương sống của các thánh, một số khoản trong Hiến luật.

Lòng đạo đức bình dân cũng như việc thực hành lòng đạo của đời tu với lời khấn đơn thiếu các nội dung phụng vụ và các nguồn Kinh Thánh. Trong các học giả, Cataldo Naro đã vạch rõ những đặc điểm và những hạn chế của nền linh đạo Ý đang nở rộ vào thế kỷ XIX. Trước hết là việc tiếp xúc hạn hẹp với Sách Thánh vốn là nguyên nhân cho cả những giới hạn khác, như sự nghèo nàn về nội dung thần học, việc tập trung vào lối sống khổ hạnh và nguy cơ rơi vào chủ nghĩa luân lý duy ý chí. Ngay sau đó, Cataldo Naro chỉ rõ: “Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là linh đạo của thế kỷ XIX không có tính Tin Mừng mạnh mẽ và không được nuôi dưỡng bằng việc quy chiếu đến Lời Chúa. Trái lại, việc quy chiếu này được thực hiện thông qua một cách khác dù trong thế kỷ này không có sự tiếp cận trực tiếp và thường xuyên với văn bản thánh”.47 Một tác động đến từ bối cảnh là sự kém nhạy bén về phụng vụ - bí tích, bởi vì, ngay cả việc xưng tội được công nhận là có tầm quan trọng cơ bản và việc rước lễ dù là trung tâm của đời sống đức tin cũng chỉ được sống dưới hình thức đạo đức. Tuy nhiên, sự hiện diện của rất nhiều vị thánh trong thế kỷ XIX là bằng chứng tốt nhất về “tính Tin Mừng mạnh mẽ” nơi linh đạo của họ, có thể nói là được nuôi dưỡng bởi bài đọc cuộc sống -lectio vitae-và gương sáng hơn là của lectio divina.

Một số Giám mục, chẳng hạn như Đức Giám mục Geremia Bonomelli, cảm thấy sự hạn chế về mặt thần học và hy vọng rằng các tín hữu có thể rút ra từ những nguồn ý nghĩa hơn, chẳng hạn “từ các sách về sự thánh thiện và các tác phẩm viết về những nhà tu khổ hạnh vĩ đại”, thay vì từ “những dòng sách về lòng sùng đạo dễ dàng, đầy ắp những việc thực hành, những câu cảm thán, những tiếng thở dài, nhưng nghèo về sự thật”.48 Nếu điều này đúng với tất cả mọi người, thì việc những người nữ có thể trực tiếp đọc và học Kinh Thánh hoặc nghiên cứu các ngôn ngữ cổ lại càng hiếm hoi hơn, trừ các đan viện hoặc trong giới thượng lưu.

Thật vậy, khi chế độ cũ không còn những ưu tiên, thì đời sống tu trì đã trở nên dễ tiếp cận hơn đối với những người nữ thuộc tầng lớp bình dân, nhạy cảm trước tiếng kêu của những kiểu nghèo khác nhau và sẵn sàng ra công làm việc mà nói về Chúa Giê-su và ơn cứu rỗi trong môi trường bình thường của việc tông đồ. Như vậy, chứng tá cá nhân đã mang Tin Mừng ra bên ngoài các nhà thờ và nhà nguyện, vượt ra ngoài những lễ nghi và tôn giáo chính thức, nhờ đó tạo ra những môi trường thông tri mới. Những người được gọi là linh mục cấp tiến ủng hộ việc dấn thân tích cực của các giáo dân và nữ tu vào các “nếp gấp của sự nghèo đói”; vì vậy những người nữ trở thành tông đồ, dù họ biết rất ít về Lời Chúa. Việc tham gia vào hoạt động tông đồ này đã thúc đẩy các hình thức phục vụ và dấn thân táo bạo, sáng tạo hơn, đồng thời giải phóng lòng đạo đức khỏi các hình thức ướt át, bài bản, mang vẻ bề ngoài, đầy lễ nghi và thậm chí mang nét mê tín đang phổ biến trong một số nhóm bình dân.

Trong suốt thế kỷ, có một tác nhân không tỏ hiện nhưng đã làm tăng trưởng sự tổng hợp đầy nữ tính giữa Lời Chúa và cuộc sống với hàng nghìn sắc thái diễn tả trong cuộc sống và với những biểu tượng quen thuộc, gắn với những gì cụ thể trong đời thường. Hơn cả những cuốn sách riêng lẻ của Kinh Thánh, con người của Đức Giê-su - Đấng Cứu thế là trung tâm của đời tu - vì vậy, niềm khao khát cứu rỗi các linh hồn của Người làm cho nhiều người tận hiến nhận thấy trách nhiệm cổ võ việc thực hành các bí tích và lòng đạo đức và dùng đó như các phương thế ưu việt.49

Ấn phẩm Imitazione di Cristo (Gương Đức Ki-tô) và Esercizio di perfezione e di virtù cristiane (Việc thực hành sự trọn lành và các nhân đức Ki-tô giáo) của tu sĩ Dòng Tên Alphonso Rodriguez50 là những sách đào luyện phổ quát và cơ bản, với các trích dẫn Kinh Thánh cổ võ cho những lời mời gọi ly thoát. Kinh Thánh được truyền đạt cách gián tiếp qua những lời dẫn giải lẫn mẫu gương của các vị thánh là những người giải thích thật hùng hồn cho các nhân đức được nói đến. Một số bậc thầy về tâm linh nổi bật là thánh Phan-xi-cô Sa-lê, thánh An-phong-sô Li-gô-ri, thánh Vinh Sơn Phao-lô, thánh Phi-lip-pô Nê-ri cổ võ mối tương quan hài hòa giữa tự nhiên và ân sủng. Các ngài ủng hộ một chủ nghĩa nhân văn Ki-tô giáo, nơi đó, chủ nghĩa hiện thực về sự tự do kết hợp với tính lạc quan về ơn cứu rỗi cho linh hồn có thể thực hành được đối với tất cả những ai quyết đáp trả trước ân sủng. Nhận thức này tác động đến việc đào tạo cá nhân lẫn các hoạt động tông đồ giáo dục hoặc bác ái, hướng tới thái độ yêu thương và tôn trọng, tin tưởng và khích lệ nhằm thể hiện lòng từ ái của Đức Ki-tô. Giáo huấn của thánh Phan-xi-cô Sa-lê cho thấy sự thánh thiện có thể thực hiện trong mọi bậc sống, thánh I-nha-xi-ô Loi-yo-la thì để lại dấu ấn trong việc tìm kiếm ý muốn và vinh quang của Chúa, còn thánh An-phong-sô Li-gô-ri thì nhấn mạnh lòng sùng kính nồng nhiệt đối với Bí tích Thánh Thể và Đức Trinh Nữ Maria.51

Lòng sùng kính Thánh Thể được nuôi dưỡng qua việc sùng kính cá nhân, qua việc dừng lại một mình trước Nhà Tạm và cũng qua việc thờ phượng công khai để đền tạ cho sự xa cách của xã hội đối với Thiên Chúa. Thực vậy, đây không phải là một việc đạo đức mang tính cảm xúc cá nhân và ướt át, nhưng nó thể hiện một nỗ lực sống vì người khác, thể hiện ý thức trách nhiệm đối với Giáo hội đang bị đe dọa bởi thái độ thờ ơ với việc biểu tỏ đức tin cách công khai.52

5. Tính ưu việt của Đức Ái

Mối dây liên kết chặt chẽ của những người thánh hiến với con người Đức Ki-tô và ý muốn của Chúa Cha giúp làm triển nở ý thức về nhiệm vụ tông đồ và truyền giáo của người thánh hiến trong Giáo hội và trong thế giới, là điều Thiên Chúa muốn và là con đường để sống theo gương Người.53 Theo nghĩa này, việc linh hướng, được nhiều linh mục nhiệt thành thực hiện để chăm sóc các linh hồn, đóng một vai trò quan trọng trong việc cá nhân hóa Tin Mừng và nhập thể Tin Mừng trong những bối cảnh cụ thể.

Những lời được linh hứng vang vọng cách đặc biệt trong đời sống tôn giáo của thế kỷ XIX không chỉ bằng lời mà còn bằng các hành động, các lựa chọn ngang qua sự dấn thân cách quảng đại, qua tình yêu thương đối với người lân cận được cụ thể hóa trong bảy công việc truyền thống của lòng thương xót thể xác và tinh thần, lấy từ những chỉ dẫn của Chúa Giê-su trong Tin Mừng Mát-thêu chương 25. Lòng thương xác và thương linh hồn bảy mối này được diễn tả trong xã hội bấy giờ tùy theo đối tượng, hoàn cảnh, dạng nghèo, nhu cầu, cho thấy sự sáng tạo của đức ái, có thể được tìm thấy trong các khoản Hiến luật, các bản chỉ dẫn, trong Qui chế của các gia đình tu trì khác nhau.

Ngoài bản văn Kinh Thánh nền tảng trên, mỗi Đấng sáng lập cảm thấy vang vọng nơi bản thân một số trang nhất định của Tin Mừng hoặc một số khía cạnh trong cuộc đời của Đấng Cứu Thế như một tiếng gọi đang chờ đáp trả. Câu trả lời cho một sứ mệnh bác ái theo nghĩa giúp đỡ những người đang có nhu cầu hoặc một trách nhiệm mang tính giáo dục; tuy nhiên, hành động này không chỉ được xem như một cách thực thi sứ mệnh, mà như một địa điểm hoặc thời khắc của mối tương quan cá vị với Thiên Chúa bởi vì đó chính là điều Thiên Chúa muốn.54

Trong ý nghĩa cốt lõi của tương quan cá vị này, dù không gợi nhắc về việc chăm lo cho những thực hành đạo đức công khai như trong quá khứ, nhưng nó có ý tái xây dựng và tái tạo xã hội dựa trên nền tảng Ki-tô giáo bằng cách bảo vệ các giá trị Ki-tô giáo đang bị suy yếu bởi lối nhìn phóng khoáng xem tôn giáo như việc riêng tư.55 Trước cái nghèo với muôn vàn diện mạo cũ và mới, là nguyên nhân của sự suy thoái về thể chất, xã hội và đạo đức, thì lòng thương cảm và đức bác ái thúc đẩy hành động, trước hết, qua các công cuộc giáo dục đối với những người không được hướng dẫn và đào tạo; sau đó là các công cuộc thăng tiến và củng cố quyền con người. Nhìn chung, trong số các động cơ cho việc thực thi bác ái vẫn còn thiếu các nhu cầu về công bằng xã hội mà sau này sẽ được Huấn quyền xã hội của Giáo hội bàn đến.

Sáng kiến ​​của các dòng tu được tinh luyện dần, để nâng đỡ những người bị gạt ra bên lề hoặc những người bị thiệt thòi, mặc dù những sáng kiến này có ít nguồn lực sẵn có, không có sự hỗ trợ của công chúng, thậm chí đôi khi phải đối mặt với những đòi hỏi khắt khe, nếu không muốn nói là thù nghịch của luật pháp. Trong giai đoạn đầu, một đức tin sống động sẽ trực giác được những nhu cầu, đôi khi những nhu cầu ấy không được biểu tỏ và làm nảy sinh những phương cách thường rất khiêm tốn. Đời sống giản dị và động lực Tin Mừng làm phát sinh niềm vui ngay giữa nhiều hy sinh.

Lòng bác ái từ “đôi mắt mở” là chìa khóa giải thích cho sự nở rộ của đời sống tu trì của dòng nam và mới hơn, là của dòng nữ. Đức ái chính là hình thức hoạt động tông đồ cụ thể để tạo nên nhịp cầu giữa Lời Chúa được nghe trong nhà thờ và đường phố, gia đình, công sở, trường học, bệnh viện, nhà tế bần, trại mồ côi, trường nội trú, v.v…  Đức ái Phúc Âm là điểm quy chiếu xuyên suốt cho tất cả các chiều kích của đời sống tu trì, được nuôi dưỡng bằng các bí tích, lòng đạo, hạnh các thánh, nhằm nâng đỡ đời sống cộng đoàn và tông đồ.

Các dòng tu được thành lập hàng loạt cho thấy rõ lòng bác ái không phải là những lời hoa mỹ hay những cảm xúc đẹp, nhưng được đặt nền trên hành động và được chi tiết hóa trong luật dòng. Việc bác ái cũng đánh dấu bước biến chuyển từ những hành vi đơn lẻ và riêng tư sang việc thể chế hóa mang tính cộng đoàn, được tổ chức thành các cơ cấu và trong sự cộng tác để công việc từ thiện đạt được hiệu quả bền lâu.56 Nỗ lực dấn thân hằng ngày và có tổ chức cho thấy Phúc Âm được sinh ra trong thời gian, trải qua thử thách của sự kiên nhẫn dần dần sẽ có khả năng tiếp chạm đến cả những người có trình độ khiêm tốn. Đó là Tin Mừng được diễn dịch thành sự kiên trung hàng ngày của những con người cụ thể, những con người được rèn giũa ngày qua ngày tại trường học của Chúa, là vị Thầy và của các bề trên đại diện cho Người.

Tính hôn ước được đề cập đến trong sách Diễm ca hay trong dụ ngôn năm cô trinh nữ khôn ngoan của Tin Mừng là phạm trù thiêng liêng nâng đỡ sự bền đỗ trong lời khấn, trong bổn phận và trong khổ chế khi bước theo Chúa - Đấng đã chịu khổ hình để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi.57 Đây là tâm tình chung cho các nữ tu vì gợi lại những kinh nghiệm thân quen. Trong bối cảnh các gia đình Ki-tô giáo, nơi cùng nhau chia sẻ những sự may lành lẫn những bất trắc, những người nữ đã được giáo dục để vượt qua khó khăn bằng nghị lực. Tính hôn ước trực tiếp gắn với lòng trung thành, sự tuyển chọn cách cá vị, lời mời gọi cho một sự đáp trả riêng tư, quảng đại, dứt khoát. Ngay cả cái chết sớm của một số nữ tu trẻ, thường là do thiếu thốn, cũng được đón nhận và thông truyền như một sự thành toàn của cuộc gặp gỡ hôn thê mà sách Diễm ca diễn tả. Mãi sau này, với sự phổ biến của thần học mục vụ và với một cách hiểu khác về các cam kết của bí tích phép rửa, các nữ tu mới đề cập đến hình ảnh Vị Mục Tử Nhân Lành.

Cùng với sự nghiêm túc sống khổ hạnh, vốn tìm thấy nơi Đức Maria dưới chân thập giá, một mẫu gương hùng hồn nhất về tình mẫu tử thiêng liêng tự hiến, tình yêu trở thành suối nguồn của sự can đảm và niềm vui; niềm tin cậy mãnh liệt vào sự hiện diện đầy an ủi của sự trợ giúp thiêng liêng, giúp lấp đầy sự thiếu kinh nghiệm, các thiếu sót, sự tự ti và nhận thức về nguồn lực của chính mình. Sự hiện diện năng động và tích cực của Chúa và của Mẹ Maria rất thánh đã được trải nghiệm như một sự đỡ nâng trong những thử thách khó lường, đáng sợ, nhưng cuối cùng lại có thể vượt qua cách can đảm không ngờ và trong những tình huống không tưởng.

Chính trong tình trạng nghèo khó mà nhiều cộng đoàn tu trì gặp phải do thiếu những trợ giúp ổn định để tiếp tục hoạt động, thì lòng tín thác vào Đấng Quan Phòng lại được nhấn mạnh. Sự quan phòng được hiểu như lòng nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và can thiệp vào lịch sử vì lợi ích của con người, Đấng ngăn ngừa và chu cấp, Người là mẫu gương đức ái năng động, hoạt động tích cực vì lợi ích của người lân cận. Vì thế, lòng tín thác vào Đấng Quan Phòng trở thành một dấu hiệu hữu hình của sự can thiệp thần thiêng.58

Tương tự như vậy, khi nói đến tình trạng gia tăng của các ý tưởng và hành vi được coi là tội lỗi và mang tính chống giáo sĩ, nếu không muốn nói là vô thần, thì các công việc bác ái mang tính đền tạ luôn được làm với mục đích biểu tỏ một cách cụ thể lòng nhân từ bền vững của Chúa hầu đưa những người đã rời xa đức tin trở về với Ngài. Trước những linh hồn “gặp nguy hiểm hay sa ngã”, việc phục vụ bác ái cúi xuống để nâng con người lên, cho thấy rằng ơn cứu độ dành cho mọi người, đồng thời cũng tiếp trợ mọi hình thức bệnh tật và những bất lực thể xác cũng như tinh thần, bởi vì giá trị của con người thì lớn hơn mọi giới hạn của họ. Chúa Giê-su chữa lành, chạm đến những vết thương, động lòng và an ủi những nỗi đau, được dùng làm thánh tượng cho nhiều Dòng tu. Có thể tóm lại rằng, đó không phải là những mảnh ghép Phúc Âm đơn độc được tiếp nhận như mẫu hình đời tu, mà đúng hơn phải hiểu như H. Von Balthasar, đó là tìm thấy một tổng thể trong các mảnh ghép.59T hật vậy, lối sống xã hội phổ biến ở Ý thời đó vẫn được thêu dệt bởi các ngôn ngữ và giá trị Ki-tô giáo, dù trong thực tế không phải lúc nào chúng cũng được sống một cách nhất quán.

Một ánh nhìn chung về các dòng tu cho thấy các Đấng sáng lập không quan tâm đến việc thúc đẩy các mô hình mới của đời tu, cũng như không nhằm thay đổi khuôn khổ chính trị trong thời của họ, nhưng các ngài đã tạo ra các thể chế mới hoặc cải tiến các thể chế đã có để thăng tiến điều kiện sống của mọi người dựa trên các giá trị Ki-tô giáo mà các ngài ước muốn làm chứng hay ủng hộ cách công khai.60

Vì phần lớn các sáng kiến ​​là do giới nữ, nên đời sống tu trì biểu lộ một cách rõ ràng nét nhân văn của Tin Mừng trong nét nữ tính. Không phải vô cớ mà Đức Maria, Trinh nữ và Mẹ, luôn là điểm qui chiếu của đời sống tu trì. Tên của các Dòng Tu luôn nói lên quan niệm về mối tương quan giữa những người thánh hiến nam nữ với Đức Maria, đồng thời giúp hiểu thế giới tu trì theo nghĩa rộng. Cụ thể trong danh hiệu của các dòng nữ, tên “Nữ tử” được dùng nhiều và cả các tên như Tôi tớ, Nữ tỳ, Nữ tu, đều nhằm ám chỉ mối tương quan cá vị của người thánh hiến với Thiên Chúa, nhằm ám chỉ việc họ được sai đến nhân danh Người để chăm sóc rất nhiều anh chị em, già cũng như trẻ, lớn cũng như bé.

Chân trời tông đồ với ánh nhìn công giáo và chiều kích hoàn vũ cổ võ một động lực lớn hướng về sứ mệnh truyền giáo muôn dân (ad gentes), nhất là sau Công đồng Vatican I. Ở những xứ sở xa xôi, việc truyền giáo luôn tìm kiếm những người “man di” hay “ngoại đạo” để cứu rỗi linh hồn họ, nhằm thực hiện mệnh lệnh của Chúa là rửa tội và làm cho muôn dân ở nơi tận cùng thế giới trở thành môn đệ. Thật vậy, các Sa-lê-diêng và FMA với lý tưởng cứu rỗi các linh hồn đã tìm đến điểm cuối của Vùng Đất lửa (Terra del Fuoco) trong điều kiện môi trường đầy ngăn trở. Lúc đó, kinh phí lo việc truyền giáo ngày càng trở thành trách nhiệm của các Dòng Tu. Đã có thời, các quốc gia bảo trợ giúp đỡ việc đi lại và các công cuộc, nhưng đồng thời họ cũng tìm cách điều kiện hóa hoạt động của các nhà truyền giáo, nên đã làm lu mờ tính nhưng không của Tin Mừng.

 Để kết

Trong thế kỷ XIX, nguồn cội Kinh Thánh của đời tu cùng các hoạt động tông đồ liên quan là rõ ràng và hiển nhiên, dù rằng phương thế tiếp cận các bản văn thánh phụ thuộc vào bối cảnh Giáo hội hậu Công đồng Tren-tô và vào nền linh đạo của thời đại.

Theo các tiêu chí đánh giá cổ, đời tu thời này nhìn chung bị xem là còn giới hạn về tín lý và thần học; tuy nhiên, những hiệu quả sáng ngời của nó có thể được kiểm chứng qua lối sống thánh thiện phong phú và đa dạng, nghĩa là, đời tu như các trang Tin Mừng được nhập thể, thích ứng với nhu cầu ngày càng tăng của sự tục hóa trong đời sống xã hội. Kiến thức và sự thẩm thấu Lời Chúa vượt xa việc đọc và nghiên cứu các trang Kinh Thánh được viết ra, vượt ra ngoài những mô hình được sử dụng vì được chuyển trao qua sự thông tri liên vị và liên thế hệ đầy sống động và thuyết phục, nhờ chứng từ của đức ái như Lời được sống và như động cơ thúc đẩy hành động.

Chính khi lưu ý đến sự phong phú của nhiều kinh nghiệm tu trì, với ánh sáng và bóng tối của nó, mà người ta đoán ra được một lối đi, một con đường còn phải trải qua. Con đường này hướng đến việc thấu hiểu tính hiện thực của Lời trong lịch sử và mở ra cho những chìa khóa dẫn giải mới, nơi mà các thuyết nhân học theo nhãn quan nam giới và nữ giới cùng hợp tác tìm ra những con đường mới.


Chú thích

*Grazia Loparco, FMA, Giáo sư về Lịch sử Giáo hội tại Phân Khoa Giáo Hoàng về Khoa Học Giáo Dục “Auxilium”.

34 Đc Cignoni Mario, Bibbia: la diffusione, trong Cristiani d’Italia (2011) https://www. treccani.it/enciclopedia/bibbia-la-diffusione_%28Cristiani-d%27Italia%29/(truy cập ngày 28.04.2022).

35 Xuất bản tại New York năm 1885 và năm 1898. Đc Ủy Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, Việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội, I.E.2.

36 Đc Porcella Maria Francesca,Don Giuseppe Frassinetti e la Pia Unione delle Figlie di S. Maria Immacolata. Una premessa importante per la rinascita nel XIX secolo della Compagnia di S. Orsola, trong Belotti Gianpietro (biên tập), La risposta femminile ai nuovi bisogni dell’età borghese, Brescia, Centro Mericiano 2012, 87-157.

37 Đc Stella Pietro,Storia della spiritualità italiana dalla Rivoluzione all’Unità d’Italia (1789-1860) [pro manuscripto], được xuất bản nhiều phần trong Dictionnaire de spiritualité ascétique et mystique. Doctrine et histoire VII/2, Paris, Éd. Beauchesne 1972, 2273-2284.

38 Đc Cignoni, Bibbia: la diffusione.

39 Dionigi Bartolomeo,Compendio historico del Vecchio e Nuovo Testamento cavato dalla Sacra Bibbia, Venezia, [s.e.] 1587 được trích trong Stella,Storia della spiritualità italiana.

40 Nt.

41 Đc Nt. Về sự thân thuộc của Cha Bosco với Kinh Thánh tham khảo những nghiên cứu của Fausto Perrenchio e Morand Wirth.

42 Đc Bosco Giovanni,Storia sacra per uso delle scuole, Torino, Speirani e Ferrero 1847.

43 Tk Rizzi Giovanni, Bibbia, trong Associazione Italiana dei Professori di Storia della Chiesa. Regoli Roberto - Tagliaferri Maurizio (biên tập), Dizionario storico tematico. La Chiesa in Italia. Vol. II Dopo l’Unità nazionale, Roma, Associazione Professori Storia della Chiesa 2019, 45.

44 Đc Stella Pietro,Il clero e la sua cultura nell’Ottocento, trong De Rosa Gabriele (biên tập), Storia dell’Italia religiosa. 3 L’età contemporanea, Roma-Bari, Laterza 1995, 87-113.

45 Đc Mezzadri Luigi, La cultura cattolica fra tradizione e modernità. L’esperienza alberoniana,trong Zambarbieri Annibale (biên tập), Storia della diocesi di Piacenza. IV L’età contemporanea, Brescia, Morcelliana 2015, 316.

46 Đc Stella Pietro, Prassi religiosa, spiritualità e mistica nell’Ottocento, trong De Rosa (biên tập), Storia dell’Italia religiosa. Vol. 3, 115-142.

47 Naro Cataldo, La spiritualità cattolica italiana dell’Ottocento, trong Laós 4 (1997) 1, 18.

48 Bản văn được trích trong Marcocchi Massimo, Spiritualità e vita religiosa tra Cinquecento e Novecento, Brescia, Morcelliana 2005, 550.

49 Đc phân tích về tính qui Ki-tô của nền linh đạo thế kỷ XIX - thời kỳ mà Cha Bosco đã sống - của Motto Francesco, Gesù Salvatore nella storia e nell’esperienza di Don Bosco, trong Martinelli Antonio (biên tập), Gesù Cristo. Appunti per una spiritualità ispirata al carisma salesiano. Atti della XIX Settimana di spiritualità della Famiglia Salesiana, Roma, Editrice SDB 1997, 213-264.

50 “Một tóm tắt cho lối sống tâm linh mới là quyển Thực hành sự trọn lành và các nhân đức Ki-tô giáo của tu sĩ Dòng Tên người Tây Ban Nha, An-phong-sô Li-gô-ri (1538 - 1616). Được viết ra để đào tạo tâm linh cho các tập sinh Dòng Tên, tác phẩm xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1606 và sau đó có nhiều ấn bản khác. Sau là cuốn Gương Đức Ki-tô, là một trong những văn bản được đọc nhiều nhất trong những thế kỷ gần đây. Dưới vẻ ngoài đơn giản, tác phẩm cho thấy sự cân bằng tốt giữa một bên là Kinh Thánh và các Giáo phụ, bên kia là tín điều thần học, luân lý và giáo luật, giữa lý thuyết và thực hành, giữa nét uyên bác và tính bình dân, giữa nét sâu sắc và sự giản đơn. Sách được chia thành ba phần. Phần đầu nói "về một số phương thế để đạt được đức hạnh và sự trọn hảo" với 8 chương: ước mong thăng tiến tâm linh, sự hoàn hảo của các hành động bình thường, ý ngay lành, sự hiệp nhất và bác ái huynh đệ, cầu nguyện, sự hiện diện của Chúa, việc xét mình và việc hòa hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Phần thứ hai, nói "về việc thực hành một số đức tính liên quan đến tất cả những ai muốn phụng sự Chúa". Chương này đề cập đến sự hãm mình, khiêm tốn và im lặng, những cám dỗ, tình yêu quá mức dành cho người thân, nỗi buồn và niềm vui, ân sủng nhận được từ Đức Ki-tô và việc suy niệm về các mầu nhiệm Cuộc Khổ Nạn, sự hiệp thông và hy tế của Thánh Lễ. Phần thứ ba bàn về các nhân đức riêng của đời tu, xem xét các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh, vâng lời, sự trung thành tuân giữ các giới luật, việc cởi mở lương tâm với bề trên, việc sửa lỗi huynh đệ. Các chỉ dẫn được đưa ra tràn ý nghĩa, thôi thúc nỗ lực sống cách thần nghiệm thực tế hàng ngày, mời gọi mạnh mẽ đến sự hoàn hảo đích thực được thể hiện qua sự từ bỏ và hiến mình hoàn toàn”. Bolis Ezio, Tra Concilio e poSt Concilio: la vita religiosa femminile dopo Trento, http://www.angelamerici.it/index_dettagli.php?get_id=390.

51 Đc Naro, La spiritualità cattolica10.

52 Đc Touze Laurent, La spiritualità cattolica tra Ottocento e Novecento. Il Cristo delle devozioni: l’Eucaristia e il Sacro Cuore, trongRogate (2010) 106, 23-24.

53 Đc nt 11.

54 Đc nt 15.

55 Đc nt 15-16.

56 Đc Fattorini Emma (biên tập), Santi, culti, simboli nell’età della secolarizzazione (1815-1915), Torino, Rosenberg & Sellier 1997; Associazione Italiana dei Professori di Storia della Chiesa. Regoli - Tagliaferri (biên tập), Dizionario storico tematico La Chiesa in Italia. Volume II-Dopo l’Unità Nazionale, https://www.storiadellachiesa.it/category/dizionario-storico-tematico/; Franzen August,Breve storia della Chiesa, Brescia, Queriniana 2009; Rocca Giancarlo,Donne religiose. Contributo a una storia della condizione femminile in Italia nei secoli XIX-XX, Roma, Ed. Paoline 1992; Goffi Tullo,La spiritualità dell’Ottocento, Storia della Spiritualità VII vol., Bologna, EDB 1989; Petrocchi Mario,Storia della spiritualità italiana, Torino, SEI 1996. Các hạn mục trongDictionnaire de Spiritualité, cụ thể “Italie; Italia” và các hạn mục khác trongDizionario degli Istituti di perfezione, biên tập bởi G. Pelliccia - G. Rocca, Roma, Ed. S. Paolo 1969-2001; Schweiger Georg (biên tập), La vita religiosa dalle origini ai nostri giorni. Dizionario (bản tiếng ý được biên tập bởi G. Loparco e L. Mezzadri), Cinisello Balsamo, Ed. San Paolo 1997, 2.

57 Đc Posada María Esther, La formazione delle Figlie di Maria Ausiliatrice 1881 - 1922. Per una lettura teologico spirituale di alcune fonti, trong Ricerche Storiche Salesiane (2004) 44, 229-230.

58 Về khía cạnh thần học đây là một luận điểm còn giới hạn vì chưa đưa con người vào tương quan cá vị với Ba Ngôi (Đc Naro, La spiritualità cattolica17-18).

59 Đc Von Balthasar Hans Urs, Il tutto nel frammento, Milano, Jaca Book 2017.

60 Đc Rocca Giancarlo, Fondatori e fondatrici impegnati trong campo sociale nell’Ottocento lombardo-veneto, trong Nhiều tác giả (biên tập), I santi sociali della Lombardia e del Veneto nell’Ottocento e l’esperienzacủa Ludovico Pavoni, Milano, Ancora 2017, 44-45.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026