Chương 2 - Các bài đọc Kinh Thánh trong Thánh Lễ mừng kính thánh Maria Mazzarello
Ha Fong Maria KO
1. Bài đọc 1: 1Cr 1, 26-31
26 Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái.27 Song những gì thế gian cho làđiên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh;28 những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có,29 hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người.30 Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em,31 hợp như lời đã chép rằng: Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa.
1.1. “Thầy có một dân đông đảo trong thành này”(Cv 18,10)
Nội dung sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư Phao-lô đều nhấn mạnh một số đặc điểm trong hoạt động truyền giáo của thánh Phao-lô; một trong những đặc điểm nổi bật nhất là việc ưu tiên cho sứ mệnh tại các thành thị. Trong khi Chúa Giê-su sống trong khuôn khổ của xứ Pa-let-tin nhỏ bé và lui tới các thôn làng nhiều hơn là thành thị, thì Phao-lô làm việc trong Đế quốc La Mã rộng lớn và là một công dân của thành đô với mọi đặc quyền. Đế quốc La Mã trải dài hàng nghìn cây số giữa các tỉnh và thành phố được nối kết bằng đường bộ lẫn đường biển. Trong các thư của mình, thánh Phao-lô gợi lại những quảng trường, đường xá, phố chợ, tòa án, cung điện. Thực vậy, với Thánh Phao-lô, hành trình của Ki-tô giáo đạt đến một bước ngoặt: từ thôn quê Sy-rô – Pa-lét-tin, Ki-tô giáo mở ra với những chân trời rộng lớn và khẳng định vị trí trong các thành phố của Đế quốc; từ môi trường nông thôn, Ki-tô giáo thâm nhập vào môi trường đô thị.
Sự lựa chọn của thánh Phao-lô có lý do chính đáng. Nhà truyền giáo đầy nhiệt huyết này rất khôn ngoan trong việc sử dụng mọi thứ mà bối cảnh mang lại để làm lợi cho Tin Mừng. Ngài biết cách nắm bắt những tiện ích được chuẩn bị sẵn bởi sự quan phòng của Thiên Chúa. Đế chế La Mã chính là một cơ hội thuận lợi, vì nó có những con đường nối liền các thành phố quan trọng khác nhau; hơn nữa, đế quốc La Mã đã có thể thống nhất các ngôn ngữ và nền văn hóa bằng cách tạo ra một nền tảng chung để thông tri, giao tiếp. Thực vậy, Phao-lô đã tận dụng lợi thế của nó: ông đi lại trên những con đường của người La Mã hoặc di chuyển bằng thuyền trên biển để đến các trung tâm đô thị lớn và ông chỉ sử dụng ngôn ngữ Hy Lạp. Thông thường, Phao-lô chọn một thành phố lớn, chẳng hạn như Cô-rin-tô hoặc Ê-phê-sô, để làm trung tâm truyền giáo, từ đây thông điệp Ki-tô giáo có thể lan tỏa đến những vùng ngoại ô khác.
Những thành phố lớn, với dân số đông đúc, với những phong trào di cư sôi nổi, với sự pha trộn của những người có nguồn gốc và truyền thống khác nhau, đã cống hiến cho Phao-lô một cánh đồng rộng lớn để rao giảng Tin Mừng, cũng như những thách thức và khó khăn không dễ đối mặt. Trước sự chống đối nghiêm trọng của người Do Thái tại thành phố Cô-rin-tô, chính Thiên Chúa khuyến khích Phao-lô vững tin tiến bước: “Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với anh; không ai tra tay hại anh được, vì Thầy có một dân đông đảo trong thành này” (Cv 18,9-10).
1.2.“Còn chúng tôi rao giảng một Đức Ki-tô chịu đóng đinh” (1Cr 1,23)
Trước khi viết thư cho các tín hữu Cô-rin-tô, Phao-lô đã ở trong thành phố đó một năm rưỡi (x.Cv 18,11), đã sống một thời kỳ hoạt động truyền giáo sôi nổi và cố gắng mang lại sức sống cho một giáo đoàn đầy triển vọng và sống động mà ngài gắn bó với tình cảm sâu sắc. Ngài nhận thức rõ về ánh sáng và bóng tối, sự nỗ lực và những nỗi vất vả, các nguồn lực và các vấn nạn của giáo đoàn này. Trong chuyến hành trình truyền giáo lần thứ ba, trong thời gian ở lại Ê-phê-sô, Phao-lô nhận được những tin tức không hay từ Cô-rin-tô. Trong giáo đoàn nảy sinh những nhóm nhỏ, bè phái, sự chia rẽ nên phát sinh những bất hòa, tinh thần ganh đua, đố kỵ, v.v... Hơn nữa, môi trường Hy Lạp không phải là không có những tác động ảnh hưởng trực tiếp đến giáo đoàn. Đức tin Ki-tô giáo đôi khi bị sàng lọc, chống chế bởi kinh nghiệm văn hóa và tôn giáo trước khi cải đạo. Sứ điệp về ơn cứu rỗi bị đặt vấn đề bởi nền triết lý tôn giáo đặt nền trên nỗ lực của nhận thức. Trong số các tín hữu, có sự thiếu rõ ràng về những biểu hiện cụ thể của đời sống Ki-tô hữu, đồng thời cũng có nhiều xáo trộn về luân lý. Tất cả những điều này đã thôi thúc Phao-lô viết thư cho giáo đoàn tại Cô-rin-tô.
Phần đầu tiên của thư (1,10-4,20) đề cập đến vấn đề nghiêm trọng nhất của giáo đoàn Cô-rin-tô: sự chia rẽ trong nội bộ. Nắm được các thông tin, Phao-lô ngay lập tức bày tỏ sự thất vọng của mình, ngài không giới hạn trong việc tố cáo, nhưng đi đến tận gốc rễ của vấn đề với một suy tư tường tận và sâu sắc. Các tín hữu ở Cô-rin-tô có nguy cơ để đức tin của họ phụ thuộc vào các thầy dạy mà từ đó họ đã nhận được lời loan báo. Lời cảnh báo của Phao-lô rất mạnh mẽ và kiên quyết: trung tâm duy nhất và nguồn gốc của Ki-tô giáo là Đức Giê-su Ki-tô bị đóng đinh và sống lại. Sau đó, Phao-lô tiếp tục suy tư về “sự khôn ngoan của thập giá” (1,18-25), là một thách thức đối lập với sự khôn ngoan nhân loại. Ngài trình bày luận đề về hai cực đối lập: khôn ngoan và điên dại, yếu đuối và mạnh mẽ. Như một nghịch lý, cái chết của Đức Ki-tô trên thập giá lại chính là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Theo luận lý nhân loại, Đức Ki-tô chịu đóng đinh xuất hiện như một sự dại dột trước con người, nhưng thực tế, đó lại là sự biểu tỏ quyền năng của Thiên Chúa trong sự yếu đuối cùng cực của con người. Thật vậy, không thể tháp nhập biến cố thập giá vào bất kỳ một hệ thống luận lý nào của con người, bởi vì biến cố này vượt trên tất cả các hệ thống lý luận: đây là một sự tự hiến không thể đo lường, một tình yêu không thể nghĩ tưởng đến.
Có lẽ các tín hữu Cô-rin-tô có quan niệm về một Ki-tô giáo ngang hàng với các trào lưu triết học và tôn giáo thịnh hành trong thời đại ấy, một học thuyết thoát ly khỏi tính cụ thể của lịch sử và của cuộc sống thường nhật, một não trạng không thể tiếp nhận một Thiên Chúa vượt trổi trong tình yêu. Các tín hữu xem như mình đã đạt đến đích, đã sở đắc được tình trạng ổn định của ơn cứu rỗi, cũng như sự thỏa mãn về các đặc sủng. Ý thức về thân phận lữ hành lao nhọc, về sự hiện hữu gian nan, về đấu tranh và đau khổ không có chỗ trong tâm trí họ. Đối với thánh Phao-lô, quan niệm này “làm cho thập giá Đức Ki-tô trở nên vô hiệu” (1,17) và hư không hóa thực tại của Giáo hội, vì thu gọn thực tại này vào một hệ thống vận hành, khiến các tín hữu tụ tập để cậy mình vào các nhân vật danh tiếng. Đây chính là điều đã thực sự xảy ra ở Cô-rin-tô. Trong khi đó, thánh Phao-lô lại xác tín sâu sắc về hành động cứu rỗi đầy nghịch lý của Thiên Chúa và tự hào tuyên bố: “Chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận và dân ngoại cho là điên rồ. […] Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1,23-24).
1.3. “Anh em thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi” (1Cr 1,26)
Sự khôn ngoan của thập giá không chỉ liên quan đến hành động của Thiên Chúa qua Đức Ki-tô, mà còn liên quan đến sự hiện diện của những ai đi theo Người. Sự khôn ngoan ấy phải trở nên rất riêng đối với các Ki-tô hữu, theo mức độ mà sự khôn ngoan đó đi vào cuộc sống của chính họ. Giờ đây, Phao-lô hướng trực tiếp đến các tín hữu ở Cô-rin-tô, ngài mời gọi họ xem xét lại ơn kêu gọi của mình. Để minh họa cụ thể cho sự khôn - dại trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa không cần phải đi đâu xa. Bản thân giáo đoàn Cô-rin-tô dường như bị khuất phục trước các hình thức khôn ngoan nhân loại, lại là địa điểm điển hình cho sự khôn ngoan của thập giá. Thật vậy, giáo đoàn Cô-rin-tô, chỉ trừ vài trường hợp ngoại lệ, bao gồm những người có địa vị xã hội đầy khiêm tốn và có trình độ văn hóa thấp: “T rong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái” (1,26). Không ai có thể tự hào về sự vĩ đại, ưu tú hay quyền thế của mình. Vậy mà Thiên Chúa đã chọn họ, gọi họ đến với đức tin và mở ra cho họ một tương lai của ơn cứu độ.
Sự lựa chọn đáng ngạc nhiên đối với não trạng nhân loại lại là một quy tắc chung của Thiên Chúa. Hành động cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử thường làm đảo lộn những khuôn khổ qui chiếu vững vàng nhất của những phán xét về giá trị theo kiểu nhân loại. Thiên Chúa yêu chuộng những người nghèo và yếu thế, hơn là những người giàu có và quyền lực. Đây là một luận lý phù hợp với những gì Người đã thực hiện ngang qua Người Con bị đóng đinh. Do đó, không một ai có thể tự hào trước mặt Thiên Chúa, không ai có thể đề cao công trạng, danh hiệu và đặc quyền.
“Không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Thiên Chúa” (1,29): chủ đề về sự “tự phụ” rất quen thuộc với thánh Phao-lô. Ngài không có ý đề cao sự hư không của con người trước sự tuyệt đối của Thiên Chúa, càng không nhằm trình bày hình ảnh của một Thiên Chúa đè bẹp phẩm giá nhân loại, nhưng đúng hơn, ngài muốn nhìn nhận với lòng chân thành và biết ơn về sự cao cả của con người, nhờ hồng ân của Thiên Chúa qua Đức Ki-tô, Đấng đã trở nên “sự công chính, ơn thánh hóa và nguồn cứu chuộc” cho tất cả chúng ta (1,30). Ngài nhấn mạnh đến ba từ diễn tả nhiệm cục cứu độ của “sức mạnh và sự khôn ngoan của thập giá”. Ở phần sau của thư, thánh Phao-lô tiếp tục công kích những luận điệu như: “Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông A-pô-lô, tôi thuộc về ông Kê-pha” (1,12). Người Ki-tô hữu không thuộc về Phao-lô, A-pô-lô, Kê-pha hay các thầy dạy hoặc các nhà truyền giáo khác, nhưng chỉ thuộc về Chúa Giê-su Ki-tô. Trong Người, họ thuộc về Thiên Chúa: “Vậy đừng ai dựa vào phàm nhân mà tự hào […], mà anh em thuộc về Đức Ki-tô và Đức Ki-tô lại thuộc về Thiên Chúa” (3,21-23).Đó là một sự thuộc về cách tự do, thanh thoát khiến ta tràn ngập niềm vui và lòng biết ơn. Vì lý do này, Phao-lô khuyên đừng “sinh ra kiêu ngạo” (4,6); ông thậm chí còn bày tỏ sự tức giận trước những người tự đề cao và khoe khoang cách mù quáng: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ?” (4,7). Phao-lô không nói đến việc không tự phụ theo nghĩa tuyệt đối, hay không cảm thấy mình được yêu mến vô cùng, hay việc tự xem mình có đặc quyền, đầy ân sủng và ân ban, thay vào đó, ông có ý khẳng định luận lý của Tin Mừng: “Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (1,31).
Tự hào trong Chúa với niềm vui và sự khiêm nhường để tôn vinh Chúa. Chúng ta có một mẫu gương trong bản Magnificat của Đức Maria. Đức Maria nhớ lại cuộc đời của chính mình và xem xét ơn gọi của chính mình, Mẹ cảm động khi nghĩ đến kế hoạch vĩ đại của Thiên Chúa, Mẹ nhận ra rằng Mẹ thật may mắn, vì Chúa đã làm những điều vĩ đại nơi Mẹ, người tôi tớ khiêm nhường. Tự hào trong Chúa, Đức Maria cất lời “ngợi khen”, nghĩa là Mẹ làm cho Chúa trở nên cao cả. Đây là cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa ân sủng khôn lường của Đấng Tạo Hóa và hồng ân khiêm hạ nơi thụ tạo, giữa sự nhưng không thuần túy và lòng biết ơn chân thành. Cả Maria Mazzarello cũng bước đi trên lối đường này.
2. Bài Phúc Âm : Lc 10,21-28
21Ngay giờấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói:“Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vìđó làđiều đẹp ý Cha.22Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho”.
23 Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng:“Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy!24 Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe”.
25 Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng:“Thưa Thầy, tôi phải làm gìđểđược sự sống đời đời làm gia nghiệp?”26 Người đáp:“Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” 27 Ông ấy thưa:“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”.28 Đức Giê-su bảo ông ta:“Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽđược sống”.
Lu-ca trình bày hành trình sứ vụ của Đức Giê-su trong khuôn khổ một cuộc hành trình. Có thể chia Tin Mừng của thánh sử thành ba phần: phần đầu lấy bối cảnh ở Ga-li-lê (4,14-9,50); phần ba (19,28-24,53) thuật lại những ngày cuối cùng của Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem với cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người; phần ở giữa, tức phần hai, được đặc trưng bởi hành trình tiến về Giê-ru-sa-lem (9,51-19,28). Đây là một phần dài và phong phú, được giới thiệu bằng một câu quyết định, mang tính hoạch định: “Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem” (9,51).
Trích đoạn Tin Mừng của chúng ta nằm trong phần thứ hai. Đoạn này gồm ba phân đoạn nhỏ: lời ngợi khen Chúa Cha (10, 21-22), các mối phúc của người môn đệ (10, 23-24) và cuộc đối thoại của Chúa Giê-su với nhà thông luật (10 ,25-28).
2.1. Lời ngợi khen Chúa Cha (Lc 10, 21-22)
Là ánh nhìn chiêm niệm của Đức Giê-su mà thánh sử Lu-ca và Mát-thêu truyền lại cho chúng ta (Mt 11,25-30). Dù chỉ là một lời nguyện ngắn nhưng trong đó Chúa Cha được nhắc đến năm lần, Chúa Con ba lần và Chúa Thánh Thần một lần. Lời cầu nguyện này là sự tuôn trào của một lòng biết ơn hân hoan, một tiếng reo mừng, một bài ca ngợi mà Chúa Con dâng lên Chúa Cha, dưới sự thôi thúc của Chúa Thánh Thần. Đức Giê-su đã nói: “Lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12,34); thật vậy, trong khoảnh khắc xúc động thì “những lời hạnh phúc chảy ra từ trái tim” (đc.Tv 44,2).
“Ngay giờấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói”. Câu mở đầu này nối kết lời cầu nguyện của Chúa Giê-su với đoạn Tin Mừng trước đó (10,17-20). Tự bản chất, đoạn này cũng được đặc trưng bởi niềm vui: sau khi đi truyền giáo trở về, các môn đệ hân hoan kể lại với Thầy kết quả đã đạt được. Chúa Giê-su vui mừng với các ông và chỉ ra lý do sâu xa tại sao các ông nên vui mừng: “A nh em hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (10,20). Lời cầu nguyện khen ngợi của Đức Giê-su được cất lên “cùng giờ đó” đã làm nổi bật hơn ý nghĩa của “việc được ghi tên trên Trời": được nhận vào thế giới của Thiên Chúa, được tham gia vào mối tương quan khôn tả của Chúa Ba Ngôi; được tham dự vào sự sống thần linh, không còn là “người xa lạ hoặc người tạm trú” nhưng là “những người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa” (Ep 2,19-22). “Người thụ hưởng” sứ vụ không chỉ bao gồm các đối tượng tông đồ, nhưng trước hết và trên hết, là người được sai đi, là nhà truyền giáo, vì được trở thành công dân Nước Trời, thành con cái Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô.
Cách diễn tả “Đức Giê-su hớn hở vui mừng” cũng là điều mà Lu-ca đã dùng để diễn tả cú nhảy vui mừng của Gio-an Tẩy Giả trong lòng bà Ê-li-sa-bét, trong cuộc gặp gỡ với Đức Maria và Con của Mẹ- Đấng Cứu Thế - đã đến thế gian nhưng còn ở một hình thức kín ẩn. Trong trích đoạn Tin Mừng của chúng ta, không phải Gio-an (nhân chứng và người mở đường) vui mừng, nhưng chính Đức Giê-su (nhân vật chính) vui mừng với đầy sự kinh ngạc và xúc động trước kế hoạch tuyệt vời của Thiên Chúa, trong đó Người chính là trung tâm.
Sau câu mở đầu, lời cầu nguyện của Chúa Giê-su được khai triển trong hai câu:
a. Ngợi khen Cha: câu 21
Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha,
vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.
Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.
Lời ngợi khen này được trình bày theo một cấu trúc điển hình trong văn chương Do Thái và được trình bày dưới dạng giao hoán chéo: câu đầu tiên và câu cuối cùng tương ứng với nhau, cả hai đều hướng trực tiếp đến Chúa Cha với lời cầu khẩn rõ ràng và thuật ngữ quen thuộc “Abba”. Bên cạnh từ “Abba” diễn tả sự trìu mến và gần gũi, Chúa Giê-su còn tôn kính Chúa Cha như “Chúa tể trời và đất”, một biểu hiện đầy cung kính và tôn trọng. Sự dịu dàng và sức mạnh, lòng tốt và sự uy nghiêm được bày tỏ cùng một lúc trên khuôn mặt của Chúa Cha. Có một tương quan sâu sắc giữa sự mật thiết tín thác với Chúa Cha và lòng kính trọng trước sự cao cả của Người. Chúa Giê-su muốn các môn đệ cũng có tâm tình như thế trước Chúa Cha, nên Người dạy chúng ta cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Tình hiếu nghĩa không xóa bỏ khoảng cách giữa trời đất, tình phụ tử không làm mất đi sự siêu việt thần linh.
Trong bộ khung của lời ngợi khen là phần trình bày về lý do của tâm tình ca ngợi trong một luận đề kép: luận đề thứ nhất nói đến cặp đồng hành đối lập của Thiên Chúa - “g iấu” và “tỏ lộ” ; luận đề thứ hai bàn đến các đối tượng “những người khôn ngoan,thông thái” và “những người bé mọn”. Thiên Chúa dành ưu ái cho những người nhỏ bé và đơn sơ, không tham vọng, những người để cho mình được yêu thương và biết đón nhận tất cả như một hồng ân. Với sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn, Đức Giê-su chiêm ngắm sự khôn ngoan thần linh vượt trên luận lý của con người. Người chúc tụng Chúa Cha vì sự lựa chọn mà chính Người cũng hoàn toàn đồng thuận. Với lời kết thúc “Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”, Đức Giê-su khẳng định lại sự đồng thuận của mình đối với kế hoạch nhiệm mầu gây kinh ngạc đó. Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo nhận định: “Sự rung cảm của Người trong lời thưa Vâng, lạy Cha nói lên sự thâm sâu nơi tận đáy lòng Người, sự gắn bó của Người với ‘điều đẹp ý” Cha. Đây có thể được xem như tiếng vọng lời Xin vâng khi Mẹ Maria thụ thai Người và như khúc dạo đầu cho lời Đức Giê-su sẽ thưa với Chúa Cha trong cơn hấp hối. Toàn bộ kinh nguyện của Chúa Giê-su đều chất chứa tâm tình gắn bó yêu thương từ trái tim nhân loại của Người đối với ‘mầu nhiệm thánh ý‘ của Chúa Cha” (số 2603).
b. Tuyên bố về mối tương quan Cha - Con: câu 22
Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi.
Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha ,
cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con ,
và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.
Niềm vui của Người Con luôn đi kèm với lòng biết ơn. Tình yêu của Đức Giê-su dành cho Chúa Cha được thể hiện qua một lòng biết ơn đầy ý vị. Người nhận ra trong mọi sự ân ban từ Chúa Cha: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi”. Nhận thức này xuất hiện trong nhiều lời của Đức Giê-su, đặc biệt là trong Tin Mừng theo thánh Gio-an: “Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người Con” (3,35). Về những lời Người giảng dạy, Chúa Giê-su nói: “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi” (7,16); về những công việc của Người thì Người bảo: “C ông trình mà Cha đã giao cho con” (17,4). Về các môn đệ, Đức Giê-su nói: “Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con” (17, 6). Ngay cả cuộc khổ nạn cũng được Đức Giê-su gọi là: “Chén mà Cha đã trao cho Con” (18,11). Chúa Cha đã ban cho Người ơn hiến mình hoàn toàn cho loài người và Người tạ ơn Chúa Cha với tình con thảo.
Giữa Chúa Cha và Chúa Con có một sự “hiểu biết" hỗ tương, không phải theo nghĩa tri thức, mà là một sự hiệp thông sống động, trọn vẹn và mật thiết. Điều này được bộc lộ cả trong sự tâm đầu ý hợp của câu “Vâng, lạy Cha” của Chúa Con. Tất cả những gì Chúa Cha “đã quyết định bằng lòng nhân từ của Người” (câu 21) cũng sẽ là điều mà Chúa Con mong muốn. Luca chứng thực rằng từ thời niên thiếu, Chúa Giê-su luôn có ý thức “lo việc của Cha” (Lc 2,49). Ý muốn của Người và của Chúa Cha là một. Giờ đây, sự hiệp thông sâu sắc về sự sống, tình yêu, ước muốn đang mở ra và sẽ được chia sẻ với tất cả những ai “Chúa Con muốn mặc khải cho”. Chính Chúa Con - Đấng nhập thể, ban cho chúng ta “sự hiểu biết” của chính Người về Chúa Cha, Người đưa chúng ta vào sự hiệp thông sâu xa với Ba Ngôi. Điều mà con người không dám mơ ước hay hy vọng thì được trao ban cho con người chỉ vì tình yêu. Điều này không thể không khơi dậy sự kinh ngạc và lòng biết ơn lớn lao. Chính trong ý hướng và cảm xúc này, Đức Giê-su tiếp tục với phần công bố “phúc” cho các môn đệ của Người.
2.2. Mối phúc của người môn đệ (10, 22-23)
Sau khi thưa chuyện với Chúa Cha, Đức Giê-su ngỏ lời với các môn đệ. Đầu tiên, Người ngợi khen và chúc tụng Chúa Cha, còn bây giờ Người vui mừng với anh em của mình. Đức Giê-su hướng về Chúa Cha trên trời và hướng đến mọi người nam nữ trên thế giới bằng một tình yêu duy nhất. Người tràn đầy lòng biết ơn đối với Chúa Cha và tràn đầy tình mến, cùng sự ân cần dịu dàng đối với tất cả những ai tiếp đón Người và đi theo Người.
Cũng trong bầu không khí hân hoan và kinh ngạc, Đức Giê-su mừng cho các môn đệ với lời chúc phúc: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe”. Mối phúc được Đức Giê-su công bố nhấn mạnh đến tính cụ thể của đời sống chứng tá về sự can thiệp của Thiên Chúa, được khởi sự nơi con người và nơi hoạt động của Đức Giê-su. Trong mối phúc này từ thấy xuất hiện năm lần, từ nghe xuất hiện ba lần. Vì thế, sau này các môn đệ có thể nói về kinh nghiệm của các ông như sau: “điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống[…]. Chúng tôi đã thấy và làm chứng” (1Ga 1,1-2).
Xét cho cùng, lý do của mối phúc không phải là thấy hay nghe, nhưng hệ tại ở nội dung của việc thấy và nghe: “thấy điều anh em đang thấy” và “nghe điều anh em đang nghe” - đó là chính Chúa Giê-su. Người là nội dung của mặc khải. Nhân cách, công việc, sứ mệnh cứu rỗi của Người được hoàn thành nhờ sự điên rồ của thập giá, vốn là tâm điểm của “mọi sự” (c. 21) mà Chúa Cha muốn cho mọi người biết và muốn chia sẻ cùng loài người. Nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa làm cho mình được nhìn và được nghe. Đức Giê-su là sự hiện thực hóa mong muốn của “nhiều ngôn sứ và vua chúa”, là sự thành toàn của niềm mong đợi trong toàn bộ Cựu Ước. Tác giả Thư gửi tín hữu Híp-ri đã mạnh mẽ khẳng định (1,1): “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử”. Giờ đây, các môn đệ thấy và nghe chính Người. Họ có phúc vì được sống trong bước ngoặt quyết định đánh dấu lịch sử cứu độ, để bước vào một thế giới mới của việc “nhận biết” Chúa Cha qua Chúa Con.
Tuy nhiên, đặc ân này không chỉ giới hạn cho các môn đệ thời xưa nhưng mở rộng cho tất cả những ai có mắt sáng và tai thính. Đôi mắt mà nhìn thấy là đôi mắt của tất cả các môn đệ ở mọi thời, những người mà qua lời chứng của các chứng nhân trực tiếp đã đạt được sự hiệp thông với Chúa Cha qua Chúa Con. Tiếp theo những câu trước, các câu 21-22 giúp hiểu rằng những người này vẫn là những người bé mọn, khiêm nhường và trong sạch, có khả năng lĩnh hội những gì Thiên Chúa đã giấu kín không cho những bậc thông thái và uyên bác biết.
2.3. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và nhà thông luật (10,25-28)
Khung cảnh thay đổi, bầu khí của niềm vui và các mối phúc cũng thay đổi. Không có một đề cập nào về thời gian hay không gian, chỉ có một nhân vật mới bước vào cuộc chuyện trò với Chúa Giê-su. Lu-ca mở đầu bằng với cụm từ “này đây”, để thu hút sự chú ý vào phần giới thiệu: ông này là một nhà thông Luật. Người đọc ngay lập tức nhận ra nhân vật này không phải là một trong số những người “bé nhỏ” hay những người “có phúc”, tức các đối tượng ưu việt của mặc khải về mầu nhiệm Nước Trời, mà là hạng người “thông thái và khôn ngoan”. Thật vậy, bản văn xác nhận điều đó bằng cách miêu tả thái độ ung dung đứng lên và dụng ý của nhà thông luật khi bắt chuyện với Đức Giê-su: “ông đứng lên để thử Người”. Phần đối thoại được trình bày với cấu trúc đối xứng:
Câu hỏi (của nhà thông luật): “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (câu 25b).
Phần đáp trả- câu hỏi (của Đức Giê-su): “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” (câu 26).
Câu trả lời (của nhà thông luật): “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình” (câu 27).
Trả lời - mời gọi (của Đức Giê-su): “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống” (câu 28).
Câu hỏi liên quan đến “làm”, tức đến hành động và câu trả lời cuối cùng của Đức Giê-su cũng nhấn mạnh đến “làm”. Câu hỏi cho thấy nhân vật này thực sự là một người thông thạo Lề luật và truyền thống Do Thái. Việc nối kết giữa “làm " và “thừa hưởng” đất đai hay sự sống là điều cơ bản trong huấn dụ của sách Đệ Nhị Luật. Một câu hỏi tương tự như thế cũng đã 3 lần được đặt ra cho Gio-an Tẩy Giả: từ đám đông (3,10), từ những người thu thuế (3,12) và từ một số binh lính (3,14).
Đức Giê-su trả lời người chất vấn mình dựa trên chính chuyên môn của ông ấy. Với hai câu hỏi ngược lại, Người khéo léo đưa nhà thông luật về với di sản văn hóa tôn giáo của mình: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Nếu câu hỏi đầu tiên tập trung vào nội dung của mặc khải (cái gì), thì câu hỏi thứ hai tập trung vào chủ thể tiếp nhận và diễn dịch mạc khải ấy (như thế nào). Ý muốn của Thiên Chúa đã được chứa đựng trong Lề luật, không cần tìm kiếm “làm cái gì” mới hoặc đưa ra những công thức mới. Đức Giê-su hoàn toàn nhất quán với truyền thống đức tin của Ít-ra-en khi xem việc tuân giữ Lề luật là điều kiện để thừa hưởng miền đất đã hứa, tức được sự sống đời đời. Bằng cách này, Đức Giê-su bày tỏ Người là một chuyên gia về Luật.
Nhà thông luật luật trả lời bằng cách trích dẫn bản văn nổi tiếng của kinh Schema (Đnl 6,5 và ông thêm vào cả đoạn Lv 19,18). Ông đã hoàn toàn có lý khi khẳng định nguyên tắc vĩ đại về tình yêu tuyệt đối dành cho Thiên Chúa - Đấng duy nhất và là trung tâm của Lề luật; ông còn biết kết hợp nguyên tắc này với tình yêu dành cho người lân cận. Ở đây chỉ có một động từ “ngươi hãy yêu” nhưng nhắm đến hai đối tượng: Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi và người lân cận của ngươi. Đức Giê-su chỉ chuẩn nhận câu trả lời: “Ông trả lời đúng lắm” và Người không bình luận, không thêm vào bất cứ điều gì. Tuy vậy, Người không giới hạn trong việc khen ngợi nhà thông luật, mà còn thúc đẩy ông ấy chuyển từ lý thuyết sang thực hành: “hãy làm như vậy” và hướng ông tới một chân trời rộng lớn hơn, tới một viễn cảnh tương lai: “sẽ được sống”. Thật thú vị khi nhận ra rằng lời cuối cùng Đức Giê-su không chỉ trả lời cho câu hỏi đầu tiên của người chất vấn, mà Người còn dùng lại chính thuật ngữ: “để được sự sống”. Như thế, Người nhấn mạnh đến việc thực hiện điều thiết yếu được khuyến nghị trong Lề Luật: yêu thương.
Cuộc đối thoại có thể kết thúc ở đây nếu không có sự tiếp tục của nhà thông luật, người “muốn chứng tỏ mình có lý” nên lại đặt một câu hỏi khác cho Đức Giê-su. Như vậy cuộc đối thoại được nối tiếp và được cấu trúc chặt chẽ như phần trên:
Câu hỏi (của nhà thông Luật): “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (29b).
Đáp lại - Câu hỏi (của Đức Giê-su): sau dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (30-36).
Câu trả lời (của nhà thông Luật): “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (37a).
Lời đáp và mời gọi (của Đức Giê-su): “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (37).
“Ai là người thân cận của tôi ?”: nhà thông luật đặt câu hỏi cho Đức Giê-su ở cấp độ nhận thức. Trái lại, khi kể dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu, Đức Giê-su làm cho ông hiểu rằng không thể đưa ra một định nghĩa khô khan và lý thuyết cho phạm trù “người thân cận”, bởi vì yêu bằng hành động là điều không thể thiếu, hơn nữa, điều này cấu thành nên việc trở nên người thân cận và trở thành người thân cận của người khác. “Người thân cận” không phải là người nhận sự giúp đỡ, mà là đối tượng để yêu thương. Thay vì hỏi: Ai là người thân cận của tôi? Ai có quyền nhận sự giúp đỡ của tôi? Ta nên để tâm suy ngẫm điều này: Làm thế nào tôi hành xử như một người thân cận với những người có nhu cầu? Làm thế nào để tôi trở nên người thân cận? Tôi yêu như thế nào?
Đọc toàn bộ cuộc đối thoại này, với dụ ngôn nằm ở giữa (10,25-37) và được định vị cách chính xác - sau bài thánh ca ngợi khen Chúa Cha (10,21-22) và mối phúc dành cho các môn đệ (10,23-24) - ta hiểu rằng: chỉ “những kẻ bé mọn” mới được tiếp cận trực tiếp với trái tim của Thiên Chúa, hiểu biết ý Chúa một cách tự nhiên hơn và chu toàn giới răn yêu thương của Người cách mau mắn hơn. Đoạn thư của thánh Phao-lô (1Cr 1,26-31) cũng đưa ra cùng một kết luận. Không khó để nhận thấy diện mạo đơn sơ và trong sáng của M. D. Mazzarello tỏa ra trong những trang Kinh Thánh này.
3. Một chuỗi “Magnificat”
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su hân hoan trong Thần Khí và tạ ơn Chúa Cha vì sự hiệp thông tình yêu tuyệt vời của Ba Ngôi Thiên Chúa, mà giờ đây tất những ai mà “Chúa Con muốn mặc khải cho” đều có thể tham dự vào. Lời cầu nguyện chúc tụng và tạ ơn của Đức Giê-su là một sự hiển linh đầy ý thơ của trái tim Người, một trái tim “hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29), một trái tim với những cảm xúc tinh tế, nhạy cảm với tình yêu và có khả năng kinh ngạc. Thêm vào đó, việc tạ ơn luôn mài giũa tâm hồn, lấp đầy trái tim bằng sự tốt lành và tô điểm cho lời nói. Ai biết cảm ơn, người đó nhận ra mình được yêu; người biết tạ ơn làm cho tình yêu nhận được đơm hoa kết trái bằng cách làm cho tình yêu đó lớn lên nơi chính họ và tuôn đổ tình yêu đó cho người khác.
Đức Maria cũng biết kinh nghiệm về sự chuyển trao và niềm hân hoan của tình yêu này. Khi gặp gỡ bà I-sa-ve, người cũng được Chúa chúc phúc giống như Mẹ, với hồng ân cưu mang một sự sống mới trong cung lòng, Đức Maria trút bầu tâm sự tràn ngập niềm vui vì “những điều cao cả” được hiện thực nơi Mẹ - “người nữ tì khiêm hạ”, cũng như trong suốt dòng lịch sử. Ngoài ra, trong bản Magnificat của Đức Maria, cũng có đối lập giữa sự hạ bệ của Thiên Chúa dành cho kẻ kiêu căng, giàu có, quyền thế và tình yêu của Người đối với những ai nghèo khó, thấp hèn (Lc 1,51-53). Lời ngợi khen của Chúa Giê-su hòa với lời ngợi khen của Đức Maria, tạo nên một bản hợp ca hài hòa của lời Magnificat dâng lên Chúa Cha, đồng thời tỏ lộ cho chúng ta luận lý đáng ngạc nhiên của Vương quốc Nước Trời.
Thánh Phao-lô bước vào dàn đồng ca này, khi ngài tự cho mình là “người rốt hết”, là “kẻ sinh sau đẻ muộn trong các tông đồ”, ngài nhận mình “không xứng đáng được gọi là tông đồ” (1Cr 15,8-9). Ngài cũng ca lên bản Magnificat của mình qua việc chiêm ngưỡng sự khôn ngoan thần linh vốn xuất hiện như sự ngu dại trước mặt mọi người, một sự khôn ngoan được che giấu khỏi những người có học thức, nhưng lại được tỏ lộ cho những người khiêm tốn, cho những người “có tự hào thì chỉ tự hào trong Chúa”.
Trong suốt dòng lịch sử, vô số người nam - nữ, khác nhau về bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và tôn giáo, khác nhau về kinh nghiệm và bậc sống, đã tham gia vào bản hợp xướng này. Trong số đó có Cha Bosco, Mẹ M. D. Mazzarello và cả những người đi theo bước chân của các ngài.
Tôi xin kết luận bằng một số chứng từ nho nhỏ, trong số rất nhiều chứng từ mà chúng ta có thể trích dẫn liên quan đến hai vị thánh này. Qua đó, chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận được âm vang bản Magnificat của Chúa Giê-su, của Đức Maria, của Thánh Phao-lô và của hàng loạt “những người bé mọn”.
Năm 1883, trên chuyến xe lửa trở về từ Paris, nơi ngài đã được chào đón rất trọng thể, Cha Bosco nói với các bạn đồng hành:
“Điều kỳ lạ! Cha có nhớ không, Cha Rua, con đường từ Buttigliera đến Murialdo? Ở phía bên phải là một ngọn đồi và trên ngọn đồi có một ngôi nhà nhỏ. Từ ngôi nhà nhỏ đến con đường là một đồng cỏ trải dài thoai thoải dốc xuống. Ngôi nhà nhỏ nghèo nàn đó là nhà của mẹ tôi , là nơi ở của tôi. Trên đồng cỏ đó, tôi đã là một cậu bé lùa hai con bò ra đồng cỏ. Nếu tất cả những quý ông đó biết rằng họ đã nghênh đón vẻ vang một nông dân nghèo từ Becchi thì sẽ ra sao nhỉ?... Đúng là sự dí dỏm của Chúa Quan phòng! [...] Cuối cùng, với vẻ khiêm tốn trẻ con, Don Bosco thốt lên: “Làm thế nào mà một người ít học lại có thể cai trị thế giới! Giá mà thế giới biết tôi là ai!... Nhưng lòng tốt và sự quan phòng của Thiên Chúa thật lớn lao biết mấy! Thiên Chúa là Đấng đã thực hiện tất cả những điều này bằng lòng thương xót vô hạn của Người” (MB XVI 257).
Vào tháng 10 năm 1876, với lòng khiêm nhường và biết ơn sâu sắc, Mẹ Mazzarello viết cho Cha Giám đốc Gioan Cagliero:
“Nói thật với cha, con ngạc nhiên và lúng túng khi thấy tất cả các chị em lúc nào cũng vui tươi và bình an. Đúng là, dầu cho con bất xứng nhưng Mẹ Phù Hộ đáng yêu của chúng ta đã ban cho chúng con nhiều ơn lớn lao” (Thư 7,2).
Trong diễn văn tuyên phong Maria Domenica Mazzarello lên bậc đáng kính (ngày 3 tháng 5 năm 1936), Đức Giáo hoàng Pi-ô XI nhấn mạnh đến sự đơn sơ và khiêm nhường của Thánh nữ Mazzarello, ngài nhìn thấy nơi Thánh nữ hình ảnh của Chúa Giê-su và Mẹ Maria; và áp dụng cho Thánh nữ hai trích dẫn Tin Mừng:
“Thật vậy, cuộc đời của Thánh nữ thể hiện tất cả những đặc điểm của sự đơn sơ khiêm tốn nhất. Một diện mạo giản dị, vô cùng giản dị, nhưng chứa đựng nhiều ân điển, phẩm chất và tài năng. Sự khiêm tốn của Thánh nữ thật lớn lao! Điều này mời ta tự hỏi: Thiên Chúa tốt lành nhìn thấy điều gì nơi một tâm hồn khiêm nhường, khiêm nhường thực sự và sâu xa? Đến độ ta có thể nói rằng, chính lòng khiêm nhường của Thánh nữ đã thu hút và khiến Thiên Chúa thực hiện những điều kỳ diệu hơn nữa […].
Thiên Chúa nhìn thấy nơi tâm hồn khiêm nhường một ánh sáng, những hình thái và đặc nét mà Người không thể cưỡng lại, bởi vì chúng gợi lên nơi Người vẻ đẹp tinh tế nhất và những đường nét chính yếu, quan trọng nhất của diện mạo Con Một của Người, Đấng đã nói: “Hãy học nơi tôi là người hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29) […]
Maria Mazzarello - nữ tử gương mẫu của Đức Maria gợi lại và nhắc nhớ chúng ta bài học lớn lao về sự khiêm nhường của Đức Trinh Nữ Maria. Thật vậy, Mẹ Thiên Chúa trong bài “Magnificat” công bố ơn tuyển chọn và vinh quang là của Thiên Chúa dành cho sự khiêm nhường của Mẹ: “Vì phận nữ tỳ hèn mọn, Người đã đoái thương nhìn tới; từ nay đến hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Mẹ Thiên Chúa đã tự xưng là “nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,48). Thật đẹp khi chiêm ngắm Thánh nữ Maria Domenica trong ánh sáng này, trong ánh sáng của chính Đức Maria. Thánh nữ cũng có thể lặp lại: Chúa đã đoái thương nhìn đến sự khiêm nhường và đơn sơ của tôi với lòng từ ái lớn lao, vì thế “muôn thế hệ sẽ khen rằng tôi có phúc” (Lc 1,48)”.
Caviglia Alberto viết trong cuốn tiểu sử về Maria D. Mazzarello như sau:
“Một nghịch lý thần linh đã xảy ra nơi Maria Mazzarello: một thôn nữ khiêm tốn không hiểu biết nhiều lại có một vị trí trong lịch sử Giáo hội vì ân điển cao vời, công cuộc lớn lao, vì việc xây dựng một truyền thống linh đạo giúp nâng cao tâm hồn những người nữ trong cuộc sống thường nhật. Sức mạnh siêu nhiên được tỏ lộ qua sự khiêm nhường ẩn giấu nơi Thánh nữ, một người sống thánh thiện bằng chính cuộc sống, qua sự gần gũi dễ thương với mọi người. [...] Thiên Chúa có sự ưu ái tuyệt đối và sự ưu tiên hàng đầu đối với sự khiêm nhường. Người tôn vinh và thăng hoa điều đó nơi chính Người Con đã tự hạ trong thân phận phàm nhân, cũng như nơi Đức Nữ Đồng Trinh - Mẹ của Con Người. Đó chính là bản Magnificat” (Chân phước Maria Mazzarello, Torino , SEI 1938, 29).