FMA Logo

Chương 2 - Lời Thiên Chúa đi trước và vượt quá Kinh Thánh



Ha Fong Maria KO

1. Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa tình yêu

“Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm của ý muốn Ngài. Nhờ mầu nhiệm đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Đức Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa. Vậy qua việc mạc khải này, Thiên Chúa vô hình, do tình thương chan hòa của Ngài, đã ngỏ lời với loài người như với bạn hữu và liên lạc với họ để mời gọi họ và chấp nhận cho họ đi vào cuộc sống của chính Ngài” (DV s.2).

Hiến chế Dei Verbum đã xác nhận đoạn trích trên với niềm xác tín và kinh ngạc, như một lời tuyên xưng đức tin, đồng thời, như một lời loan báo niềm vui. Theo nhiều nhà chú giải, điểm mới lạ và mấu chốt để giải thích toàn bộ văn kiện nằm ở đây. Mạc khải mở ra cho con người không gian của chính sự sống nơi Thiên Chúa, mạc khải có tính đối thoại và thân tình. Đó là một hành động của tình yêu nhưng không từ phía Thiên Chúa. Đó không phải là “một khối sự thật” mà Thiên Chúa truyền cho con người để con người tin, nhưng là một sự tự mặc khải: Thiên Chúa tỏ lộ mình, mặc khải mình và Người làm điều đó với “sự tốt lành và khôn ngoan”, bằng tình yêu và tình bạn. Chẳng phải Chúa Giê-su đã khẳng định rõ: “Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe được nơi Chúa Cha, Thầy đã cho anh em biết” sao (Ga 15,15)?

Như vậy, đón nhận Lời Chúa, không phải là tin một cách lạnh nhạt vào các chân lý bất di bất dịch, mà là bước vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa, là ở trong sự hiệp thông với Người, trở thành “những người tham dự vào bản tính của Người”, theo lời mời gọi của chính Thiên Chúa. Sách Kinh Thánh là bằng chứng và là sự kéo dài của cuộc đối thoại yêu thương này. Kinh Thánh không chất chứa những ý tưởng về Thiên Chúa, nhưng thông truyền sự sống của Thiên Chúa. Kinh Thánh không phải là một cuốn sách của những giáo thuyết, hay những chỉ thị luân lý, nhưng là một bí tích, qua đó Thiên Chúa tự hiến mình, tự phó mình, đặt con người vào trong sự giao tiếp và hiệp thông với Người qua Đức Ki-tô. Thiên Chúa không chỉ muốn dạy chúng ta cách sống, mà còn muốn cho chúng ta gặp Đấng làm cho chúng ta được sống. Một cách sâu xa, cuộc gặp gỡ với Kinh Thánh là cuộc gặp gỡ với một Thiên Chúa là tình yêu, Đấng tìm kiếm mối tương quan. Trong cuộc gặp gỡ với Đức Ki-tô, tất cả mạc khải thần linh được hợp nhất và tìm được tâm điểm cũng như sự viên mãn. Nơi Đức Ki-tô, “lời không những nghe được, không những có một tiếng nói, mà còn có một khuôn mặt”.197

Các Giáo phụ của Giáo hội trong những thế kỷ đầu tiên đã xác tín về điều này. Đức Grê-gô-ri-ô Cả đã diễn đạt điều đó rất hay trong một bức thư gửi cho một người bạn: “Kinh Thánh là gì, nếu không phải là bức thư của Thiên Chúa Toàn năng gửi cho thụ tạo của Ngài?”198 Đối với thánh Am-brô-si-ô, qua Sách Thánh, Thiên Chúa vẫn còn trở lại để “bước đi”, để “chuyện trò” với con người, như Người đã trò chuyện vô cùng thân mật với A-đam trong vườn Ê-đen.199 Vì trung tâm của sứ điệp thông tri này là Đức Giê-su Ki-tô nên thánh Giê-rô-ni-mô mạnh mẽ khẳng định: “không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô”.200

2. Lời Chúa được chứng thực trong Kinh Thánh

“Lời Thiên Chúa đi trước và vượt quá Sách Thánh”: đó là một trong những lời khẳng định sâu sắc của Tông huấn Lời Chúa - Verbum Domini (số 17). Theo cách nói thông thường, các thuật ngữ Kinh Thánh, các sách thánh, Kinh Thánh, lời Chúa được xem như đồng nghĩa; trong thực tế, tất cả có liên quan chặt chẽ nhưng không hoàn toàn giống nhau. Khi nói “lời”, chúng ta thường nghĩ đến một kiểu truyền thông bằng miệng ở cấp độ âm thanh, ngữ âm, trong khi thuật ngữ tiếng Do Thái tương ứng dabar có nghĩa rộng hơn: từ này không những chỉ nội dung được giao tiếp mà còn là chính việc “nói” hay biến cố, hành động giao tiếp.

Kinh Thánh xem cụm từ “Lời Thiên Chúa” là một thực tại sống động, một năng lượng hoạt động. Sức mạnh này thể hiện từ khi tạo thành trời đất rồi sau đó phát triển trong suốt lịch sử. Toàn bộ Kinh Thánh, Cựu Ước và Tân Ước, không làm gì khác ngoài việc kể lại hành trình, quá trình “nói” của Thiên Chúa. Bằng cách “nói”, Người tạo dựng, kêu gọi, công bố, chất vấn, đoan hứa, dạy dỗ, khuyên nhủ, ngăm đe, phán xét, thực thi các lời hứa. “Lời” của Người thì “sống động và hữu hiệu” (Hr 4,12), chạy nhanh (Tv 147,15), phát triển mạnh mẽ (Lc 8,11; Cv 19,20), ban sự sống dồi dào (Cl 3,16), soi chiếu (Tv 119,105), sưởi ấm (Lc 24,32), làm no thỏa (Đnl 8,3; Mt 4,4) và làm dịu cơn khát (Is 55,1-3), gây thương tích như thanh gươm hai lưỡi (Hr 4,12), phủ tràn và biến đổi như lửa thiêu đốt hay búa đập vỡ đá (Gr 23,29), chữa lành (Tv 107,20), sinh hoa kết trái (Is 55,11), tái sinh (1Pr 1,23) và đong đầy niềm vui (Tv 119,162). Lời ngỏ với Áp-ra-ham, Môi-sê, các tiên tri, với các cá thể và với toàn thể dân chúng. Lời nhập thể và mang lấy khuôn mặt con người nơi Đức Giê-su Ki-tô. Lời lan rộng khắp Giáo hội, vẫn sống động và hữu hiệu cho đến tận thế.

Chính vì Lời Thiên Chúa là của Đấng luôn luôn “là”, Đấng tự giới thiệu “Ta là Đấng Ta là” (Xh 3,14) nên Lời từ Người ban ra thì luôn thiết thực, luôn hiện hành đối với con người. Hơn nữa, vì có Đức Giê-su Ki-tô - Đấng là “hôm qua, hôm nay và mãi mãi không hề thay đổi” (Hr 13,8) - là trung tâm, Lời Thiên Chúa liên hệ với quá khứ, hiện tại và cả tương lai của con người. Lời Chúa vừa là ký ức, vừa là hiện thực và là lời tiên tri. Lời không bao giờ trôi qua (x.Mc 13, 31), không có ranh giới: tính năng động của Lời tồn tại mãi mãi (x.1Pr1,25).

Trong tình yêu và trong ước muốn đối thoại với con người, Thiên Chúa không chỉ dùng ngôn ngữ con người, không những nói từ trong lòng thế giới, trong dòng lịch sử và bắt đầu từ những kinh nghiệm của con người, mà Người còn đảm nhận chính những cách thức giao tiếp và truyền bá của con người, kể cả việc “định hình” bằng văn bản. Có một sự tương đồng kỳ diệu giữa tiến trình hình thành bản văn Kinh Thánh và mầu nhiệm Nhập thể. Lời trở nên xác phàm nơi Đức Giê-su, trở nên một cuốn sách nơi Kinh Thánh. Hiến chế Dei Verbum xem sự chuyển động này là dấu chỉ “sự hạ mình của Thiên Chúa”:

“Trong Kinh Thánh, tỏ hiện sự “hạ mình” kỳ diệu của Đức Khôn Ngoan vĩnh cửu, mà vẫn không làm tổn thương sự chân thật và thánh thiện của Thiên Chúa, “để chúng ta học biết lòng nhân từ khôn tả của Thiên Chúa và do sự quan tâm quan phòng săn sóc đến bản tính chúng ta, Thiên Chúa đã thích ứng lời nói của Ngài đến mức nào”. Quả thế, các lời của Thiên Chúa, được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, đã trở nên tương tự với lời nói loài người, cũng như khi xưa Lời của Chúa Cha vĩnh cửu đã mặc lấy xác thịt yếu đuối của loài người, đã trở nên giống như loài người” (DV s.13).

Cũng có một sự tương tự nào đó giữa việc “định hình bằng văn bản” của Lời Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua. Sự khôn ngoan vĩnh cữu trú ngụ trong một văn bản, hơi thở thần linh tự thu mình trong không gian hạn hẹp của một quyển sách, Lời năng động đón nhận trạng thái tĩnh của việc định hình cứng ngắc trong bản văn, chấp nhận “chết” trong những chữ viết giới hạn và trong khuôn khổ ngữ pháp, để sau đó “hồi sinh” trong vô số bối cảnh thiết thực, mang lại sức sống cho vô vàn độc giả ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa. Thực vậy, mỗi cuốn sách đều ẩn chứa nơi mình sự năng động của cái chết và sự phục sinh. Tư tưởng sống động của tác giả “an nghỉ”, “chết đi” trong cuốn sách, chờ được chính người đọc đánh thức, được phục hồi sự sống và sức năng động nhờ đi vào cuộc đời của người đọc. Một cuốn sách không bao giờ được đọc, có nguy cơ trở thành nấm mồ của những suy nghĩ, và thư viện trở thành nghĩa trang. Kinh Thánh trong tính vật chất của nó cũng không ngoại lệ. Xavier Matoses mô tả sự mong manh của bản văn Kinh Thánh như sau:

“Do đó, Kinh Thánh vẫn còn mỏng manh và phụ thuộc sự tùy ý sử dụng của con người. Con người có thể đón nhận Kinh Thánh như một điều cần thiết trong đời sống Ki-tô hữu của mình, hoặc có thể quên Kinh Thánh trên giá sách, đây là lựa chọn hay xảy ra nhất. Từ khía cạnh dễ bị tổn thương này, quyển sách Kinh Thánh, về thể chất, gần giống với thân thể Đức Ki-tô được diễn tả trong cuộc khổ nạn: bị giải đi đây đó, bị coi thường, kết án, hành hạ và lãng quên bởi một số người; nhưng lại được được chăm sóc, nhìn ngắm, chiêm niệm, khóc thương và chôn cất với sự dịu dàng bởi một số người khác. Một lần nữa chúng ta đối diện với bí ẩn về sự gần gũi đáng kinh ngạc của một Đấng Khác, khiến cho lý trí nhân loại của ta vô cùng ngỡ ngàng. Đó là mầu nhiệm về sự hiện diện và sự ẩn mình của Thiên Chúa trong những trang sách đơn sơ của quyển Kinh Thánh. Trong những vụn giấy - đôi khi lấm tấm những vết mực, được kết bằng ít keo và bọc trong bìa cứng, chúng ta tìm thấy sự gần gũi khôn tả của Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo thành trời và đất”.201

Kinh Thánh không chỉ là Lời của Thiên Chúa cách đơn thuần, nhưng là chứng tá đầy phẩm chất của Lời, là hình thức cụ thể do chính Thiên Chúa muốn. Ngay cả khi Thiên Chúa có thể tiếp cận ta bằng nhiều cách và Lời của Người cũng có thể được cảm nhận trong các sách khác, thì chỉ trong các bản văn Kinh Thánh, Giáo hội mới tìm thấy một Thiên Chúa nỗ lực tiếp tục hiện diện và gặp gỡ con người. Kinh Thánh, “Quyển Sách” ưu việt, đón tiếp và “chứa đựng Lời của Thiên Chúa” (DV s.24; VD s.18), nhưng không làm cạn kiệt Lời. Kinh Thánh là “Lời Chúa được chứng thực và được linh hứng cách thần thiêng” (VD s.7).202 Nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, Kinh Thánh trở thành “nhà tạm của Lời thần linh”,203 “bí tích” truyền đạt sức mạnh cứu độ,204 dấu chỉ giúp nhận ra biến cố ân sủng. Theo nghĩa này, việc định nghĩa Ki-tô giáo là “tôn giáo của Quyển Sách” là một cách nói hạn hẹp. Điều quan trọng không phải là bản văn, mà là Lời Chúa được thông truyền qua bản văn, Lời được đón nhận, được sống và cử hành. Ki-tô giáo đúng hơn là “tôn giáo của Lời Thiên Chúa” (VD s.7). Lời có trước, vượt qua và vượt quá Kinh Thánh, là tôn giáo của những gì sách Kinh Thánh chứng thực, của biến cố tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Ki-tô. Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI đã có một khẳng định rất hữu hiệu: “Bắt đầu trở thành một Ki-tô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một ý tưởng vĩ đại, nhưng đúng hơn là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một Ngôi Vị - Đấng mang đến cho cuộc đời một chân trời mới cùng với một hướng đi mang tính quyết định”.205

Giờ đây, biến cố tình yêu này đã được chứng thực trong Kinh Thánh. Lời thánh thiêng ngự trong sách này cần được mở ra một không gian để có thể phát triển và hành động, một nơi để có thể “phục sinh” và bộc lộ sức mạnh cũng như hiệu quả của nó. Kinh Thánh, chứng từ của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, một lần nữa cần phải trở thành một cuộc đối thoại sống động. Kinh Thánh phát sinh từ đời sống cụ thể của con người cần trở về với con người, với Giáo hội. Trong Giáo hội, Lời Thiên Chúa được Kinh Thánh truyền đạt tiếp tục vang vọng ở các lĩnh vực khác nhau: phụng vụ - bí tích, giáo lý - bài giảng, mục vụ - giáo dục; ở bình diện đời sống thiêng liêng và chứng tá đức tin, v.v… Đây sẽ là chủ đề suy tư trong chương 3.

Nhìn về Maria Domenica Mazzarello

________________________________________

Lời Chúa vượt quá sách Kinh Thánh. M. D. Mazzarello là mẫu gương ý nghĩa về một đời sống giản dị, thấm nhuần Lời Chúa, ngay cả khi Thánh nữ không có sự tiếp xúc trực tiếp với Kinh Thánh.

Cảm nghiệm về Thiên Chúa của Thánh nữ hoàn toàn phù hợp với điều mà chính Thiên Chúa đã muốn cho ta cảm nghiệm trong mạc khải Kinh Thánh, với đức tin được Giáo hội truyền lại và Công Đồng tái khẳng định: Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa không phải là kết quả của nỗ lực con người vươn tới Ngài, nhưng là chính Thiên Chúa, tự mặc khải chính mình, bằng sáng kiến ​​và ý muốn tự do của Người, Người ngỏ lời, thông tri, yêu thương, đối thoại với tình bạn, Người tự trao ban một cách nhưng không. Đức Giê-su Ki-tô, trung tâm của mạc khải Kinh Thánh và đức tin Ki-tô giáo, là tâm điểm cuộc đời, là trung tâm tình yêu, nỗ lực thiêng liêng của Thánh nữ Maria Mazzarello, cũng như của sự hiệp nhất giữa các chị em Con Đức Mẹ Phù Hộ tiên khởi. Cả trong điều này cũng có thể ghi nhận một sự đồng hình đồng dạng với Kinh Thánh không từ chương, nhưng sâu sắc và thực tế.


Chú thích

197 Verbum Domini 12.

198 Gregorio Magno, LettereV, 46.

199 Ambrogio, Lettere49,3-4; Il Paradiso 14,18.

200 Gerolamo, Commento in Isaia, Prologo, được trích trong Dei Verbum 25.

201 Matoses Xavier, Bibbia e pastorale. Un’alleanza organica? trong Benzi Guido - Cavagnari Gustavo - Matoses Xavier, La fonte dell’evangelizzazione. Fondamenti, ambiti ed esperienze di pastorale biblica, Brescia, Queriniana 2018, 37-38.

202 Đc Angelini Giuseppe, La rivelazione attestata. La Bibbia tra testo e teologia, Milano, Ed. Glossa 1998.

203 Đc Chauvet Louis Marie, Simbolo e sacramento. Una rilettura dell’esistenza cristiana, Leumann (TO), Elledici 1990, 151-154.

204 Đc ĐTC Bê-nê-đíc-tô XVI cống hiến toàn bộ số 56 của Verbum Domini để suy tư về “tính bí tích của Lời Thiên Chúa”, một chủ đề mở ra một không gian nghiên cứu rộng lớn. Đc Bozzolo Andrea - Pavan Marco, La Sacramentalità della Parola, Brescia, Queriniana 2020.

205 Thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu s.1.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026