FMA Logo

Chương 3 - Đời sống Giáo hội: địa điểm ưu việt của việc lắng nghe Lời Thiên Chúa



Ha Fong Maria KO

1. Một sự trực thuộc hỗ tương: Kinh Thánh và dân Chúa

Kinh Thánh thì rộng mở cho tất cả mọi người; sứ điệp của Kinh Thánh có khả năng thấm nhập và tỏ hiện trong mọi bối cảnh lịch sử và trong mọi nền văn hóa - truyền thống khác nhau. Tuy nhiên, Kinh Thánh đặc biệt gắn kết với dân Chúa: dân được tuyển chọn trong Cựu Ước và Giáo hội của Đức Giê-su Ki-tô trong Tân Ước.

Thực vậy, có một sự trực thuộc hỗ tương giữa Kinh Thánh đối với con người và con người đối với Kinh Thánh. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô viết: Kinh Thánh “trước tiên thuộc về những người được triệu tập để lắng nghe Kinh Thánh và nhận ra chính mình trong Lời Kinh Thánh”. Trích dẫn bản văn trong chương 8 của Nơ-khe-mi-a về buổi tuyên đọc Lề Luật đầy xúc động sau khi dân Ít-ra-en trở về quê hương sau cuộc lưu đày ở Ba-bi-lon, Đức Thánh Cha bình luận: “Kinh Thánh là sách của dân Chúa, mà nhờ việc lắng nghe, sự tản mác và chia rẽ của dân Chúa chuyển thành sự hiệp nhất. Lời Thiên Chúa liên kết các tín hữu và làm cho họ nên một dân tộc”.206

Nếu xét theo trình tự thời gian, về việc ra đời và phát triển, chúng ta có thể nói rằng Kinh Thánh đã được ra đời và lớn lên trong cộng đồng tín hữu là những người làm chứng, tường thuật, suy tư, cử hành, công bố Lời. Bản thân Kinh Thánh là một bộ sách, là tập họp của nhiều bản văn được biên soạn trong suốt một thiên niên kỷ hoặc lâu hơn. Thư viện này trở thành một cuốn sách, một tổng hợp thống nhất.207 Bởi lẽ, trước hết, các bản viết này khác nhau nhưng có cùng một tác giả là Thiên Chúa duy nhất tự mặc khải, có cùng một trung tâm là Đức Giê-su Ki-tô208 và cùng được linh hứng bởi một Thánh linh duy nhất. Kế đến, việc công nhận sự thống nhất nội tại này là kết quả của sự biện phân được thực hiện bởi một dân tộc và được đóng ấn bởi một sự đồng thuận: Quy điển Kinh Thánh.

Tuy nhiên, chúng ta có thể nói rằng cộng đồng được thiết lập bởi Lời Thiên Chúa mà Kinh Thánh xây dựng, gây dựng và làm cho lớn lên, cả dân Chúa được tuyển chọn khi xưa lẫn dân mới chính là Giáo hội. Trong Sách Thánh, dân tìm thấy sự triệu tập của chính họ để cấu thành “dân Chúa”, “cộng đoàn (ekklesía) của Chúa”. Dân Chúa nhận ra nền tảng sự tồn tại của chính mình trong Sách Thánh; nhờ Sách Thánh, dân được nuôi dưỡng, được liên tục trở nên sắc nét; dân cũng luôn hướng về Sách Thánh với ý thức được canh tân. Trong khi cộng đồng dân Chúa tìm thấy căn tính của mình trong Kinh Thánh, thì Kinh Thánh tìm thấy trong cộng đồng nơi lắng nghe, giải thích, cử hành và công bố, cũng như bối cảnh sống thiết yếu của mình.

“Sách và cộng đồng dân Chúa là không thể tách rời. Sách Thánh chẳng là gì nếu không có cộng đồng và cộng đồng tìm thấy ở nơi Sách Thánh căn tính thật của mình. Do đó, chuẩn mực không chỉ là Sách, mà là Sách trong tay của cộng đồng dân Chúa. Giáo hội không thể chỉ dựa vào duy Sách Thánh mà thôi”.209 Do đó, việc giải thích Kinh Thánh vượt qua mọi ứng dụng kỹ thuật và vượt xa mọi chú giải mang tính khoa học. Có một kinh nghiệm về sự toàn thiện của việc hiểu biết, kinh nghiệm về giá trị của gặp gỡ, kinh nghiệm về sự mở lòng cho một sự hiện hữu, sự tiến gần đến cái tuyệt đối, sự choáng ngợp trước với cái vô hạn vốn vượt lên trên mọi mô tả; và chỉ có toàn bộ đời sống của Giáo hội mới cho phép cảm nếm sự vô hạn ấy. Trong Tông thư Verbum Domini, Đức Bê-nê-đic-tô XVI nhìn thấy ở điểm này “một tiêu chí cơ bản của khoa chú giải Kinh Thánh: khung cảnh ưu việt của việc giải thích Sách Thánh là đời sống của Giáo hội”. Ngài giải thích: “Lời khẳng định này không có ý xem lập trường của Giáo hội như quy luật ngoại tại mà các nhà chú giải phải tuân phục, nhưng đúng hơn đây là điều mà chính thực tại cũng như phương thức hình thành Sách Thánh đòi hỏi” (VD s.29). Còn nữa:

“Kinh Thánh đã được viết ra bởi Dân Thiên Chúa và cho Dân Thiên Chúa, dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Chỉ trong sự hiệp thông này với Dân Thiên Chúa, trong cái “chúng ta” này, chúng ta mới có thể thực sự đi vào trung tâm của chân lý mà chính Thiên Chúa muốn nói với chúng ta. [...] Chiều kích Giáo hội trong việc giải thích Kinh Thánh không phải là một đòi hỏi được áp đặt từ bên ngoài. Quyển Sách ấy đúng là tiếng nói của đoàn Dân Thiên Chúa lữ hành; và chỉ ở trong đức tin của đoàn Dân này, có thể nói chúng ta ở trong cùng một hòa điệu đúng đắn để hiểu Sách Thánh. [...] Cường độ của một kinh nghiệm Giáo hội trung thực chỉ có thể làm phát triển khả năng hiểu biết Lời Thiên Chúa trong đức tin; ngược lại, phải nói rằng đọc Sách Thánh trong đức tin cũng sẽ làm tăng trưởng chính đời sống Giáo hội” (VD s.30).

2. Lời Chúa vang vọng trong nhiều lãnh vực khác nhau trong đời sống Giáo hội

Lời Thiên Chúa, cả lời được định hình trong Kinh Thánh và lời bất thành văn, đều được thiết định để “chạy”, để “phát triển”, để vang vọng ở các cấp độ khác nhau và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống Giáo hội: trong lĩnh vực phụng vụ - bí tích, giáo lý, giảng thuyết, mục vụ, giáo dục, trong bối cảnh của nghiên cứu chú giải - thần học, trong huấn quyền của Giáo hội, ở cấp độ đời sống thiêng liêng và chứng tá đức tin.210 Toàn thể Giáo hội được xem là “nhà của Lời” (VD s.52), nơi Lời Thiên Chúa được lắng nghe và sống. Không chỉ có thế, qua Giáo hội, Lời Chúa được lan tỏa khắp thế giới qua lời loan báo, việc rao giảng Tin Mừng, truyền giáo, các dấn thân xã hội, việc đối thoại với văn hóa hay các tôn giáo, v.v...211

Giáo huấn gần đây của Giáo hội đã chú tâm suy tư về sự hiện diện không thể thiếu và vị trí nổi bật của Lời Chúa trong mọi lãnh vực. Ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn một số điểm đặc sắc nhất liên quan đến một số lĩnh vực:

- Lãnh vực phụng vụ- bí tích

“Trong phụng vụ, Thiên Chúa nói với dân Người và Đức Ki-tô loan báo Tin Mừng” (SC s.33).212 Lời khẳng định nổi tiếng này của Công đồng Vatican II là điểm đến và điểm khởi hành của nhiều suy tư, có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến thực hành mục vụ của Giáo hội hậu công đồng. Tông huấn Verbum Domini tái khẳng định sự hiện diện này và xem phụng vụ là “nơi Lời Chúa được cử hành như một lời hiện thực và sống động” (VD s.52), như một ngôn ngữ của tương quan, đối thoại, như một biến cố có sức lôi cuốn.213 Lời không mang tính thông tin, nhưng mang tính thẩm thấu, không chỉ nói, mà còn hoạt động.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Bí tích Thánh Thể là trung tâm của mối tương quan giữa Lời Chúa và các bí tích. “Giáo hội luôn tôn kính Sách thánh như đã tôn kính chính thân thể Đức Ki-tô” (DV s.21). “Lời và Thánh Thể liên kết mật thiết với nhau đến độ không thể hiểu cái này nếu không có cái kia: Lời Thiên Chúa đã trở thành xác thể cách bí tích trong biến cố Thánh Thể” (VD s.55).214 Tầm quan trọng của Lời Chúa trong việc cử hành các bí tích khác cũng không kém. Thật vậy, không thể hình dung một cử hành bí tích mà không có phụng vụ Lời Chúa làm tiền đề. Ngay cả việc cầu nguyện, các bài hát và lòng đạo đức bình dân cũng phải thấm nhuần Lời Chúa: “Trong lời Kinh Thánh, lòng đạo đức bình dân sẽ tìm được nguồn cảm hứng vô tận, những mẫu cầu nguyện vượt trội và những đề xuất về chủ đề rất phong phú”.215

- Lãnh vực giảng thuyết và bài giảng

Việc giảng thuyết, đặc biệt là bài giảng trong khi cử hành Thánh Thể, “tạo thành một sự hiện thực hóa sứ điệp Kinh Thánh, ngõ hầu các tín hữu được hướng dẫn để khám phá ra sự hiện diện và hiệu quả của Lời Chúa trong cuộc sống hôm nay của họ” (VD s.59). Lời Chúa hướng cộng đoàn đến việc cử hành các mầu nhiệm thánh, do đó thực hiện một chức năng thần nghiệm. Ý thức tầm quan trọng của bài giảng, Đức Bê-nê-đic-tô XVI đề nghị việc soạn thảo một Chỉ dẫn về bài giảng như một công cụ hỗ trợ cho các nhà thuyết giáo. Bản văn đã được xuất bản vào năm 2014.216 Ngay cả Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong Evangelii Gaudium - Niềm vui Tin Mừng, đã dành nhiều không gian cho chủ đề về bài giảng. Bài giảng nếu được chuẩn bị kỹ và với “những lời đốt cháy trái tim”, “thực sự có thể là một kinh nghiệm mãnh liệt và hạnh phúc về Thánh Thần, một cuộc gặp gỡ đầy an ủi với Lời, một nguồn đổi mới và tăng trưởng liên tục” (EG s.135).

- Lãnh vực mục vụ

Vị trí trung tâm của Lời Chúa trong lĩnh vực dấn thân rộng lớn này của Giáo hội được Đức Bê-nê-đic-tô XVI nhấn mạnh trong Verbum Domini: Lời phải trở nên “tâm điểm ngày một hơn của mọi hoạt động Giáo hội” (VD s.1). Ngài còn nhấn mạnh hơn: “Thượng Hội Đồng kêu gọi một sự dấn thân mục vụ đặc biệt để nêu bật vị thế trung tâm của Lời Thiên Chúa trong đời sống Giáo hội, khi đề nghị nên “tăng cường việc mục vụ Kinh Thánh”, không phải bằng cách đặt khoa này bên cạnh những hình thức mục vụ khác, nhưng phải là “linh hoạt tất cả công việc mục vụ bằng Kinh Thánh. Vậy vấn đề không phải là thêm một vài cuộc hội họp trong giáo xứ hay trong giáo phận, mà là đảm bảo trong các sinh hoạt quen thuộc của các cộng đoàn Ki-tô hữu, trong các giáo xứ, trong các hội đoàn và trong các phong trào, người ta thật sự quan tâm đến việc gặp gỡ riêng tư với Đức Ki-tô, Đấng thông truyền chính Người cho chúng ta nơi Lời Người” (VD s.73).217 Đây cũng không muốn nói về việc tạo ra hay củng cố một “lĩnh vực mục vụ Kinh Thánh” riêng biệt trong cơ cấu Giáo hội, cũng không phải là thêm một “thời khắc Kinh Thánh” vào các sự kiện hay chèn một “biểu tượng Kinh Thánh” trong các tài liệu. Thực tế đòi hỏi tạo nên sự nhất quán và thấm nhập hơn nữa. Đó là sự hiện diện trung tâm, xuyên suốt, lan tỏa và thấm nhuần của Lời Chúa, đến độ nếu không có Lời, đức tin có thể nói là thiếu máu hoặc không có xương sống.

Liên quan đến việc mục vụ giới trẻ, bản văn dành riêng một số nói về “việc loan báo Lời Chúa và những người trẻ” (VD s.104), qua đó Đức Giáo Hoàng khuyến khích:

“Chúng ta phải giúp những người trẻ có được sự tín nhiệm và thân quen với Kinh Thánh, để Kinh Thánh có thể giống như một la bàn chỉ ra lối đường phải theo. Ngoài một Lời loan báo rõ ràng, người trẻ cần những chứng nhân và những người thầy đồng hành với họ, hướng dẫn họ yêu mến và truyền thông Tin Mừng đặc biệt cho những người trẻ đồng trang lứa. Như thế, chính họ cũng trở thành những người loan báo chân chính và khả tín”.

- Lãnh vực Loan báo Tin Mừng và truyền giáo

Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô khẳng định: “Tất cả công cuộc rao giảng Tin Mừng đều dựa trên Lời Chúa, được lắng nghe, suy niệm, sống, cử hành và làm chứng. Sách Thánh là nguồn của việc loan báo Tin Mừng” (EG s.174). Dù là “tân Phúc Âm hóa” hay “lời loan báo đầu tiên”, hoặc bất kỳ hình thức hay điểm nhấn nào của việc dấn thân rao giảng Tin Mừng đều không thể không lấy Lời Chúa làm trung tâm và nguồn mạch.

Ngày nay, “lời loan báo đầu tiên” được chú ý nhiều nhằm khơi dậy sự gắn bó ban đầu với Chúa Giê-su, hoặc làm sống lại niềm tin vào Người. Lời loan báo này được gửi đến những người chưa biết Chúa, nhưng cũng dành cho những Ki-tô hữu không sống đức tin của mình một cách ý thức hoặc có một căn tính Ki-tô hữu yếu đuối và dễ bị tổn thương. Đây là một nhu cầu được chính thức hóa gần đây, nhưng thật ra luôn là một nhu cầu ngày càng cấp bách hơn, đặc biệt là trong bối cảnh “hậu Ki-tô giáo”.218

- Lãnh vực huấn giáo

Sự hiện diện cần thiết của Kinh Thánh trong việc dạy giáo lý đã được Công đồng Vatican II và Huấn quyền hậu Công đồng thúc đẩy lại cách mạnh mẽ.219 Đức Thánh Cha Phan-xi-cô chỉ ra trong Evangelii Gaudium: “Sách Thánh là nguồn của việc loan báo Tin Mừng” (EG s.174); “Điều cốt yếu là Lời mạc khải làm phong phú cách tận căn việc dạy giáo lý và mọi nỗ lực thông truyền đức tin” (EG s.175). Đức Thánh Cha nói về sự cần thiết của một nền huấn giáo mang tính đặc sủng và thần nghiệm là những đặc điểm thiết yếu của việc dạy giáo lý (EG s.163-168). Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của việc dạy giáo lý “là làm con người không chỉ tiếp xúc, mà còn hiệp thông, sống thân mật với Đức Giê-su Ki-tô”.220 Trong huấn giáo, việc “lấy Đức Ki-tô làm trung tâm” là một nguyên tắc tuyệt đối: “Mầu nhiệm Đức Ki-tô trong sứ điệp mặc khải không phải là một yếu tố thêm vào bên cạnh những yếu tố khác, nhưng là trung tâm điểm, mà từ đó tất cả các yếu tố khác được phân chia theo thứ tự và được soi sáng”.221 Theo nghĩa này, Kinh Thánh là kênh thông truyền đặc biệt để nuôi dưỡng cuộc gặp gỡ với Đức Ki-tô, một cuộc gặp gỡ có sức biến đổi cuộc sống.

- Việc phục vụ bác ái

Việc công bố Lời và chứng tá đời sống (kerygma-martyria), kinh phụng vụ và cử hành các bí tích (leiturgia) cùng việc phục vụ bác ái (diakonia): bản chất nội tại của Giáo hội được diễn tả trong ba nhiệm vụ này. “Đối với Giáo hội, bác ái không phải là một loại hoạt động trợ giúp xã hội, việc này có thể để cho người khác làm, nhưng thuộc về bản chất của Giáo hội, đó là một biểu hiện không thể thiếu của chính bản chất Giáo hội”.222 Tin Mừng mời gọi trước hết hãy đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa là Đấng yêu thương chúng ta qua việc sống “một đức tin được cụ thể hóa bằng việc bác ái” (Gl 5,6). Không có bác ái, chúng ta có nguy cơ đánh mất nét tươi mới và “hương thơm của Tin Mừng” (EG s.39).

- Chứng tá đời sống

Đức Bê-nê-đic-tô XVI viết: “Lời Chúa đến với con người qua cuộc gặp gỡ với các nhân chứng làm cho Lời Chúa hiện diện và sống động”. “Có một tương quan chặt chẽ giữa lời chứng của Sách Thánh, hiểu như sự chứng nhận của chính Lời Thiên Chúa về mình và chứng tá đời sống của các tín hữu. Điều này bao gồm điều kia và dẫn tới điều kia. Chứng tá Ki-tô hữu thông truyền Lời đã được chứng thực trong các Sách Thánh. Phần mình, Sách Thánh giải thích chứng từ mà các Ki-tô hữu được mời gọi đưa ra bằng chính cuộc sống của họ. Những ai gặp được những chứng nhân khả tín của Tin Mừng thì sẽ nhận ra được tính hữu hiệu của Lời Thiên Chúa nơi những ai đón tiếp Lời” (VD s.97). Vì thế, “Người Ki-tô hữu có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng - Đức Thánh Cha Phan-xi-cô tái khẳng định - không phải với tư cách là người áp đặt một nghĩa vụ mới, mà là người chia sẻ niềm vui, báo hiệu một chân trời tươi đẹp, cống hiến một bữa tiệc đáng mong đợi. Giáo hội không phát triển nhờ chủ trương cải đạo mà “do sự thu hút” (EG s.14). Trong bối cảnh này, câu nói nổi tiếng của Thánh Phan-xi-cô Sa-lê cống hiến nhiều ánh sáng: “Đừng nói về Thiên Chúa cho những người không hỏi bạn. Nhưng hãy sống sao cho sớm muộn gì người ấy cũng sẽ hỏi bạn về Thiên Chúa”.

- Những nghiên cứu chú giải và thần học

Rõ ràng là việc nghiên cứu đóng góp thiết yếu vào việc hiểu và đào sâu Lời Chúa, tuy nhiên cần phải ghi nhớ điều mà Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh nhắc đi nhắc lại: “Trong công việc giải thích của mình, các nhà chú giải công giáo không bao giờ được quên rằng những gì họ giải thích là Lời Chúa. Nhiệm vụ của họ không kết thúc khi họ đã phân biệt các nguồn, xác định các thể loại hoặc giải thích các biện pháp văn chương. Mục tiêu công việc của họ chỉ đạt được khi họ đã làm sáng tỏ ý nghĩa của bản văn Kinh Thánh như Lời thực sự của Thiên Chúa”.223 Bản thân các nhà chú giải phải có mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa là Đấng nói qua Kinh Thánh, bởi vì “kiến thức chính xác về văn bản Kinh Thánh chỉ có thể tiếp cận được đối với những người có tương quan sâu sát với những gì văn bản nói về”.224 Tinh thần thuộc về Giáo hội một cách mạnh mẽ cũng là điều không thể thiếu vì Sách thánh được ủy thác cho Giáo hội. “Cường độ của một kinh nghiệm đích thực về Giáo hội có thể làm phát triển khả năng hiểu biết đích thực về Lời Thiên Chúa trong đức tin. Ngược lại, phải nói rằng, đọc các Sách Thánh trong đức tin cũng sẽ làm tăng trưởng chính đời sống Giáo hội” (VD s. 30).

Nhìn về Maria Domenica Mazzarello

______________________________________________________

Là người con của thời đại và của môi trường sống, M. D. Mazzarello không có ân phúc đọc trực tiếp Kinh Thánh. Thánh nữ không có mối tương quan hiển hiện với bản văn Kinh Thánh, nhưng ngài sống một cách mãnh liệt với Thiên Chúa mặc khải. Thánh nữ biết kín múc từ các kênh trung gian khác nhau của Giáo hội, là những kênh không chỉ thích hợp, phong phú và hiệu quả, mà còn gắn liền với bản chất của quá trình thông truyền Lời Chúa, do đó, được chính Thiên Chúa mong muốn và bảo đảm. Thật vậy, chữ viết cần trở thành lời sống động qua phụng vụ, việc rao giảng, giáo lý, đời sống thường nhật và các mối tương quan cá nhân. Trong cuộc đời của M. D. Mazzarello, môi trường gia đình, công việc, tình bạn, cuộc sống đơn giản với những niềm vui và nỗi buồn, sự khôn ngoan cộng đồng được thể hiện trong các truyền thống tập thể, ảnh hưởng sâu sắc của các lễ hội và phụng vụ tôn giáo, Bí tích Thánh Thể mà Thánh nữ đã tham dự với lòng nhiệt thành và sự chuyên cần, các buổi giáo lý mà ngài vui vẻ tham dự, đời sống giáo xứ, sự đồng hành của các cha linh hướng trước và sau khi tuyên khấn, v.v… tất cả đều có chiều sâu Phúc Âm và tạo thành một chân trời Kinh Thánh quan trọng, vượt trội các bản văn.225


Chú thích

206 ĐTC Phan-xi-cô, Tông sắc Aperuit illis, 2019, 4.

207 Từ biblía là số nhiều của biblion ẩn chứa ý niệm về sự sánh đôi của số ít-số nhiều: Nhiều quyển sách hợp thành một cuốn sách. Kinh Thánh gồm tóm nhiều điều trong một, tạo thành một tổng thể không thể đạt được như tổng số của những cá thể.

208 Giáo Hội luôn xác tín: toàn bộ Sách Thánh được hợp nhất và tìm thấy sự sung mãn nơi Đức Ki-tô. Người là Con Chiên mở cuốn sách được đóng bằng bảy ấn mà không có Người thì không thể giải mã được và không thể hiểu được (x.Kh 5,1-10). Thánh Am-brô-si-ô nói: “Thiên Chúa chỉ phán một lời, đó là khi Người phán qua Con của Người” (Chú giải Thánh Vịnh 61,33). Và O-ri-gê-nê khẳng định: “Lời Chúa, vốn có từ ban đầu bên Thiên Chúa, không phải là sự nhân gấp của lời; không phải là nhiều lời, nhưng là một Lời duy nhất, […] và tất cả các Sách Thánh hợp thành một cuốn sách duy nhất” (Chú giải Tin Mừng theo Gio-an 5, 5-6). Rupert of Deutz nhắc lại: “Tổng hợp của Sách thánh, mỗi lời trong đó, Thiên Chúa đều gồm tóm tất cả trong lòng Trinh nữ” (Chú giải về I-sa-i-a 2,31). Theo nhiều nhà thần học thời trung cổ, Đức Ki-tô được gọi là "Verbum abbreviatum" - “lời viết tắt của Thiên Chúa”, tất cả đều được cô đọng trong ngôi vị của Người. Kể từ Công đồng Vatican II, vai trò trung tâm của Đức Ki-tô trong Kinh Thánh được đưa ra ánh sáng, tk Dei Verbums.4, Verbum Dominis.11-13.

209 Chauvet Louis Marie, Simbolo e sacramento. Una rilettura sacramentale dell’esistenza cristiana, Leumann (TO), Elledici 1990, 147.

210 Các lãnh vực khác nhau gắn với Lời Chúa này là đề tài phần hai của Tông huấn Verbum Domini với đề tựa Lời trong Giáo hội.

211 Phần thứ ba của Tông huấn Verbum Domini “Lời cho thế giới” bàn về các đề tài này.

212 Đc Thánh Bộ Về Phụng Tự Và Kỷ Luật Bí Tích, Chỉ thị về các Bài đọc trong Thánh Lễ, 1981, 3-4.

213 Cần thiết là “việc giảng thuyết không chỉ hướng về người nghe mà  còn là nói về người nghe. Người nghe không chỉ là thính giả của mạc khải Thánh Kinh nhưng còn là chủ thể”. Parmentier Elisabeth, L’efficacia della Parola nella predicazione, trong Bressan Luca - Routhier Gilles, L’efficacia della Parola, Bologna, EDB 2011, 20.

214 Trong bối cảnh này, Đức Bê-nê-đíc-tô XVI, khi nhắc lại đoạn qui chiếu về “chân trời mặc khải mang tính bí tích” của Đức Gio-an Phao-lô II, đã nói về “tính bí tích của Lời” và hy vọng có thêm nghiên cứu về chủ đề này. Lời mời đã được tiếp nhận một cách nồng nhiệt và đã kích thích vô số suy tư. Đc Bozzolo Andrea - Pavan Marco, La Sacramentalità della Parola, Brescia, Queriniana 2020.

215 Thánh bộ về Phụng tự và kỷ luật bí tích,Kim chỉ nam về lòng đạo đức bình dân và phụng vụ. Các nguyên tắc và đường hướng, 2001, 87; Đc VD 65.

216 Thánh bộ về Phụng tự và kỷ luật bí tích, Kim chỉ nam về bài giảng, 2014.

217 Cách diễn đạt sự sinh động trong Kinh Thánh về toàn bộ mục vụ đã gây được tiếng vang rộng rãi, đã dẫn đến nhiều hội nghị và ấn phẩm ở nhiều nơi trên thế giới. Ví dụ: Silva Retamares Santiago, La animación bíblica de la pastoral. Su identidad y misión, San Pablo, Bogotá, CELAM 2010; Naranjo Salazar Gabriel, De la pastoral bíblica a la animación bíblica de la pastoral, San Pablo, Bogotá, CELAM 2010; Benzi Guido - Cavagnari Gustavo - Matoses Xavier, La fonte dell’evangelizzazione. Fondamenti, ambiti ed esperienze di pastorale biblica, Brescia, Queriniana 2018; Laliberté Daniel - Rubel Georg (ed.), Animatio biblica totius actionis pastoralis. Bible–Pastorale-Didactique, Bruxelles, Peter Lang 2019; Matoses Xavier - Benzi Guido - Puykunnel Shaji Joseph (edd.), L’animazione biblica dell’intera pastorale. Fondamenti, approfondimenti e prospettive, Roma, LAS 2020.

218 Giáo hội Ý rất nhạy cảm với chủ đề này. Giáo hội ý thức rằng, trước khi giáo dục đức tin, phải khơi dậy hoặc hồi sinh đức tin. Đc CEI, Gặp gỡ Chúa Giê-su. Định hướng cho việc loan báo và dạy giáo lý tại Ý, 2014, Chương II khai triển về lời loan báo đầu tiên. Gia đình Sa-lê-diêng cũng rất nhạy cảm với chiều kích sứ mạng này. Trong khoảng thời gian 2010-2015, Hội dòng FMA, phối hợp với lĩnh vực Truyền giáo SDB, đã tổ chức 8 ngày nghiên cứu về Lời loan báo đầu tiên ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong giai đoạn 6 năm 2015-2021, cũng với các SDB, Hội Dòng đã thực hiện 4 hội thảo cấp châu lục về chủ đề Lời loan báo đầu tiên về Chúa Giê-su Ki-tô ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Châu Đại Dương. Ngoài ra, Hội dòng đã thực hiện hai xuất bản: Maravilla Alfred (ed.), Io ho un popolo numeroso in questa città (At 18,10). Atti delle Giornate di Studio sul Primo Annuncio di Cristo in Città, Roma, SDB Settore per le Missioni e FMA ambito per le Missioni, 2016; Cùng tác giả,Il Primo Annuncio Oggi, Roma, SDB Settore per le Missioni e FMA ambito per le Missioni 2017.

219 Có một sự chú tâm canh tân việc dạy giáo lý được minh chứng trong các tài liệu ra đời sau thời kỳ hậu công đồng. Một số tài liệu về dạy giáo lý của Tòa Thánh là: Giovanni Paolo II, Esortazione apostolica Catechesi tradendae, 1979; Thánh Bộ Giáo Sĩ, Kim chỉ nam tổng quát về giáo lý, 1997; Hội Đồng Giáo Hoàng Cổ Vũ Việc Tân Phúc Âm Hóa,Tân kim chỉ nam cho việc dạy Giáo lý, 2020. Cũng có nhiều tài liệu của các Giáo hội địa phương cống hiến những đường hướng và hướng dẫn về lý‎ thuyết cũng như thực hành cho huấn giáo.

220 Kim chỉ nam tổng quát về giáo lý 80.

221 Nt 41.

222 Thiên Chúa là Tình yêu 25.

223 Việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội, III. C. 1.

224 Nt II. A. 2.

225 Người viết tiểu sử của thánh nữ - F. Maccono - khẳng định: “Từ khi còn trẻ, Thánh nữ đã lắng nghe Lời Chúa cách háo hức và đầy chú tâm trong nhà thờ, sau đó, Thánh nữ còn dùng các quyển sách tốt, đặc biệt là quyển Gương Đức Ki-tô và những tập sách về lòng đạo bình dân của thánh An-phong-sô Li-gô-ri. Nhờ trí nhớ xác đáng, Thánh nữ làm phong phú cho sự hiểu biết và chân lý tôn giáo của bản thân ách sâu sắc, thực tiễn, rồi với sự chuyên cần suy niệm Thánh nữ định hình cho mình ý chí hướng về sự thiện”: Maccono Ferdinando, Quindici lettere di Suor Maria Domenica Mazzarello con annotazioni, Torino, Istituto FMA 1932, 5-6.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026