FMA Logo

Chương 4 - Đời sống hàng ngày: mảnh đất của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người



Ha Fong Maria KO

Đức Chúa phán với dân Ít-ra-en : “Mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. […] Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30,11-14). Thiên Chúa không nói từ một cõi trừu tượng, xa xôi, không thể tiếp cận; và Người cũng không lên tiếng ở một “nơi hoang vu” (Is 45,19), nhưng nói với con người trong cái cụ thể của đời thường. Thiên Chúa tiếp nhận lời nói, phong tục, biểu tượng, cử chỉ, hình ảnh của con người và biến chúng thành của mình. Để đi vào cuộc đối thoại, Thiên Chúa tìm cách thích nghi với con người bằng cách đón tất cả các phạm trù có tác dụng kích thích các suy nghĩ, cảm xúc và quyết định nơi con người. Đến lượt mình, con người đáp lại Thiên Chúa trên cùng một tầng sóng với tất cả nhân tính của mình. Kinh Thánh và con người gặp nhau trong cuộc sống. Cuộc sống hàng ngày là nắm bột trong đó men Tin Mừng được hòa trộn. Về điểm này, C. Bissoli có những lời thật sâu sắc:

“Đời sống hàng ngày là nơi mà cuộc sống và Lời gặp nhau một cách ý nghĩa, thực tế và hỗ tương. Cuộc sống chỉ tồn tại như đời sống hàng ngày, nghĩa là, đan kết sự tồn tại qua các kinh nghiệm và tương quan. Chính trong tấm thảm của đời sống hằng ngày, trong những biến cố lớn nhỏ đời thường mà nảy sinh câu hỏi cụ thể về ý nghĩa, khát vọng hạnh phúc, công lý, hòa bình, tha thứ. Tự nó, mỗi câu hỏi có vẻ đơn lẻ, nhỏ nhặt, tầm thường, vị kỷ, nhưng thực sự chúng biểu lộ niềm khắc khoải tự nhiên trong mỗi người, do đó, nói lên khát vọng được cứu rỗi của con người. Vì vậy, nếu Kinh Thánh có ý định trở thành Lời đáp trả - đề xuất về ơn cứu rỗi thì chỉ có thể thực hiện điều này trong đời sống thường nhật mà thôi”.226

1. Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của con người

Kinh Thánh là sự nhập thể của Lời Chúa qua ngôn ngữ và cách thức của con người. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa toàn năng cúi xuống trên phận người yếu đuối, Đấng Tạo Hóa học cách trò chuyện với các thụ tạo của mình trên trái đất.227 Các tiên tri xưa đã dùng những hình ảnh đầy dịu dàng để trình bày tình yêu của Thiên Chúa như tình yêu của một người cha đối với những đứa con bé nhỏ: “Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng. Ta xử với chúng như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má; Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn” (Hs 11,4). Tình yêu của Người lớn đến nỗi khiến Người tự hạ mình trước sự nhỏ bé của chúng ta, giống như một người cha hay người mẹ lắp bắp với con mình để nên gần gũi với nó. “Khi Kinh Thánh tự hạ để sử dụng những ngôn từ kém cỏi của chúng ta, là để chúng ta từ từ leo lên, như leo lên các nấc thang, đến nơi mà chúng ta thấy gần gũi rồi vươn đến tuyệt đỉnh”.228 Sự “hạ cố đáng ngưỡng mộ” thánh thiêng này (DV s.13) có cùng một luận lý với Kenosis của mầu nhiệm Nhập thể, có nét tương đồng thật rõ ràng và hiển nhiên: trong mầu nhiệm Nhập thể, Thiên Chúa ẩn mình trong sự khiêm nhường của bản tính con người, trong Kinh Thánh, Người ẩn mình trong sự khiêm nhường của lời nhân loại: “Lời vĩnh cửu của Chúa Cha đã trở thành lời của con người, để con người có thể hiểu được Lời Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở thành lời. Đấng là Chân lý chấp nhận tỏ mình và phân mảnh trong muôn vàn sự thật”.229

Với việc nhập thể, Con Thiên Chúa kết hợp với toàn thể nhân loại và “một cách nào đó với mỗi con người. Người làm việc bằng bàn tay con người, suy nghĩ bằng khối óc con người, hành động bằng sự lựa chọn của con người, yêu bằng trái tim con người”.230 Chính Ngài cũng lớn lên “trong sự khôn ngoan, tuổi tác và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52) trong bối cảnh của cuộc sống gia đình hàng ngày, trong một môi trường Na-da-rét đơn sơ. Người hòa nhập vào văn hóa, phong tục và tập quán của môi trường sống; Người học tập, làm việc, cầu nguyện, tham dự các cử hành của dân tộc, tuân thủ các ngày lễ và truyền thống. Người thể hiện chính mình như một con người cụ thể, biết dành không gian cho sự biểu tỏ tự nhiên của các cảm nhận và cảm xúc. Con người và lời nói của Người bộc lộ sự ấm áp của tình người, lý tưởng, khả năng phán đoán, sự khôn ngoan, não trạng thực tế, nét yêu đời. Người quan sát mọi thứ với sự chú tâm và đầy cảm thông. Người dùng dụ ngôn và tận dụng các tích truyện dân gian về động vật, thực vật và các dấu chỉ của tự nhiên. Người nói một cách đơn sơ và thực tế về công việc của người nông dân, người làm rượu, người đánh cá, người chăn cừu, các thương gia, thợ xây nhà. Người cũng không bỏ qua những việc nhỏ bé thường được giao cho phụ nữ như nhào bột làm bánh, thắp đèn đặt lên giá, bảo quản rượu, vá áo cũ. Người cũng biết đến nỗi đau của người phụ nữ khi sinh con và hiểu rõ tâm trạng của họ. Điều đáng ngạc nhiên là Người đã chọn hình ảnh người phụ nữ lâm bồn để nói về mầu nhiệm vượt qua của mình (x. Ga 16,21-23).

Chúa Giê-su “không xuất hiện như một người khổ hạnh tách biệt khỏi thế gian, hay như một kẻ thù của những điều thú vị của cuộc sống”.231 Người tận hưởng niềm vui của các buổi tiệc, vui vẻ nhận lời mời dự tiệc, thăm bạn bè, dự đám cưới, ôm trẻ con trên tay và thích thú quan sát những trò chơi của chúng trên quảng trường. Người cẩn thận quan sát những người cầu nguyện trong đền thờ và không bỏ sót cử chỉ khiêm tốn và kín đáo của một người phụ nữ bỏ hai đồng xu duy nhất của mình vào hòm tiền. Người chia sẻ nỗi đau của những người đang than khóc, thấu hiểu nỗi thống khổ của những bậc cha mẹ có con ốm đau, cảm động trước dòng lệ của một người mẹ và cũng rơi nước mắt trước cái chết của một người bạn. Người cảm thương cho đám đông lầm lạc, thấu hiểu sự bất lực của những ai không thể kéo dài cuộc sống của mình dù chỉ một ngày. Người biết sự bồn chồn của những người có trách nhiệm canh giữ ngôi nhà khỏi sự đột nhập bất ngờ của những kẻ trộm.

Người cũng không lạ với sự năng động phức tạp của các tương quan giữa con người với nhau trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Bản thân Người có rất nhiều tương quan khác nhau: với thân nhân và những người đồng hương, với các môn đệ và đám đông, với bạn bè, những người có cảm tình cũng như các đối thủ, với chính quyền dân sự và tôn giáo, với người Do Thái cũng như người Hy Lạp, với người giàu và người nghèo, với những người trí thức lẫn những người ít học, v.v… Trong các dụ ngôn, Người nói một cách rõ ràng về quan hệ giữa cha và con, giữa anh em trong nhà, giữa chủ và tớ, giữa thầy và trò, giữa vua và dân, giữa người giàu và người nghèo, giữa kẻ quyền thế và người bị áp bức. Trên hết, Người nhấn mạnh rằng tình yêu phải được mở rộng cho tất cả mọi người, ngay cả với kẻ thù.

Trong những lời dạy của mình, Người coi trọng truyền thống và sự khôn ngoan nhân loại. Người kết hợp tất cả trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Người kết nối lịch sử và sự sáng tạo, đời sống thường nhật của con người và hoạt động liên lỉ của Thiên Chúa trong cuộc sống. Những tuyên bố như “Kho tàng của bạn ở đâu, thì lòng của bạn ở đó” (Mt 6,21),Đừng để tay trái biết việc tay phải đang làm” (Mt 6.3), v.v… là những lời thần linh đầy tính nhân văn, đồng thời, là sự khôn ngoan nhân loại được thăng hoa thành sự mặc khải thần linh.

Qua Người, thế giới đã trở thành ngôi nhà của Thiên Chúa, nơi ngôi nhà này, kế hoạch yêu thương của Người được thực hiện, vẻ đẹp của Người tỏa sáng; lịch sử nhân loại mở ra cho sự vĩnh hằng, tất cả đời sống nhân loại được thấm nhuần đời sống thần linh. Cái “ở đây và bây giờ” của con người trở thành cơ hội gặp gỡ và đối thoại với Thiên Chúa, thành nơi thực hiện ý Người và bí tích tình yêu của Người. Vì lý do này, “không có gì thực sự thuộc về con người mà không đánh động tâm hồn của các môn đệ Đức Ki-tô”.232

Chúa không chỉ nói với ngôn ngữ loài người, mà còn nói với con người. Người thông tri với con người, đặt câu hỏi, chất vấn, mong đợi lời đáp trả từ con người. Cuộc đối thoại mang tính đề xuất - đáp trả, tác động - phản ứng mà Thiên Chúa bày tỏ trong Kinh Thánh với từng cá nhân, với dân Ít-ra-en và với cộng đoàn Giáo hội tiên khởi không kết thúc với sự mã hóa bằng chữ viết trong văn bản Kinh Thánh, mà còn tiếp tục được thể hiện nơi mỗi con người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là một cuộc gặp gỡ đầy năng động, luôn hiện thực và không có hồi kết.

2. Con người đáp trả trong tính cụ thể của cuộc sống

Từ tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa dành cho con người và cho tất cả những gì tinh tuyền thuộc về con người, phát sinh sự đánh giá của chúng ta về chính mình, về cuộc sống thường nhật của chúng ta và về những điều nhỏ nhặt hàng ngày, như Thánh Phao-lô dạy: “Dù ăn, dù uống hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả vì vinh danh Chúa” (1C r 10,31); “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm, hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17). Phẩm chất của một tình yêu tỏa sáng là nhờ biết chú ý đến những điều bình thường, đến những chi tiết. Sách Giáo lý dành cho người lớn của Hội đồng Giám mục Ý đã có những cách diễn tả đơn giản và sâu sắc về điều này: “Sự thánh thiện Ki-tô giáo được thể hiện trong tính cụ thể của đời sống thường nhật. Điều này giúp ta làm tốt mọi thứ, tập trung vào thời điểm hiện tại, không làm những điều thường ngày theo thói quen. Một sự thánh thiện vĩ đại có thể trưởng thành qua những điều nhỏ nhặt hàng ngày”.233 Gương mẫu ưu việt cho sự thánh thiện này là Đức Maria, “người khi còn nơi dương thế đã sống cuộc đời như tất cả mọi người, với đầy những bận tâm về gia đình và công việc, Mẹ đã luôn kết hợp mật thiết với Con của mình và hợp tác một cách hoàn toàn độc đáo vào công trình của Đấng Cứu Thế”.234 Đức Maria, “người nữ của đời thường”, “thụ tạo phi thường yêu sự bình thường, người mà trước khi được trao vượng miện nữ hoàng thiên quốc đã đón lấy bụi đất nghèo khó của thế giới chúng ta”,235 Ngài đồng hành với chúng ta với tình mẫu tử dịu dàng và cẩn trọng.

Thực tại hàng ngày là một bí tích đan xen giữa hữu hình và mầu nhiệm. Sự đơn điệu ngày qua ngày có thể tỏa sáng với sự tươi mới không ngờ và đạt được nét quyến rũ tinh tế, có thể khơi lên một khoảnh khắc sáng tạo và sự mới lạ đáng kinh ngạc, trở thành một công trường nơi xây nên lịch sử cứu độ, trở thành một mảnh đất cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. Thực vậy, nhiều phần trong Kinh Thánh có bối cảnh là cuộc sống thường nhật: những câu chuyện với diện mạo, tên tuổi, địa điểm và sự kiện cụ thể; những suy tư khôn ngoan nói về vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên, nói về lịch sử và tổ tiên, gia đình, công việc, trí tuệ, tình bạn, khổ đau và sự mong manh của cuộc đời, thời gian chóng qua, v.v… Thường thì những công việc vĩ đại của Thiên Chúa cũng phát sinh từ những gì được xây lên bởi những điều nhỏ nhặt; và những điều kỳ diệu hay xuất hiện từ sự giản dị của đời thường.

Lời Chúa cho chúng ta sự chỉ dẫn để thăng hoa đời sống hàng ngày, ngõ hầu đời sống này chuyển động trong chân trời ý nghĩa do Chúa vạch ra và đạt đến mục tiêu mà Người mong muốn. “Vì trong Người chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu” (Cv 17,28). Nói cho cùng, sống Lời Chúa trong hiện tại và cách cụ thể, sống tỉnh thức và chuyên cần đón nhận những lời mời gọi của Người - mà trong từng phút giây đưa ta đến việc khám phá ra những dấu chỉ nhỏ bé của tình yêu Người trong cuộc sống hàng ngày giúp ta thưởng thức những niềm vui hàng ngày với lòng biết ơn - đều là những thái độ của Đức Giê-su, mà Đức Giáo hoàng Phao-lô VI đã diễn với sự tinh tế của tâm hồn:

“Ngài [Đức Ki-tô] đã biết rõ, đánh giá và đề cao tất cả những niềm vui của con người, những niềm vui đơn sơ và hàng ngày, khả thi với tất cả mọi người. Chiều sâu đời sống nội tâm của Ngài không làm giảm đi tính hiện thực trong cái nhìn cũng như trong sự nhạy cảm của Ngài. Ngài ngưỡng mộ chim trời và hoa huệ ngoài đồng. Ngài nhấn mạnh ánh nhìn của Thiên Chúa dành cho công trình sáng tạo vào bình minh của lịch sử. Ngài không ngừng đề cao niềm vui của người gieo và thợ gặt, của người tìm được kho tàng ẩn giấu, của người mục tử tìm được con chiên của mình, hay của người phụ nữ tìm lại được đồng xu bị mất; niềm vui của những vị khách dự tiệc, của đám cưới, của người cha mừng đón đứa con trở về từ cuộc sống hoang đàng và của người phụ nữ vừa sinh con. Đối với Đức Giê-su, những niềm vui nhân loại này mạnh mẽ đến độ trở nên dấu chỉ của niềm vui thiêng liêng trong Nước Thiên Chúa”.236

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô làm vang vọng điều này khi mô tả Chúa Giê-su sống giữa những người đơn sơ và chú tâm đến những chi tiết nhỏ của cuộc sống hàng ngày:

“Chúng ta hãy nhớ cách Chúa Giê-su mời các môn đệ chú ý đến từng chi tiết.

Chi tiết nhỏ như chuyện hết rượu tại một bữa tiệc.

Chi tiết nhỏ như chuyện lạc mất một con chiên.

Chi tiết nhỏ như bà góa dâng cúng hai đồng xu.

Chi tiết nhỏ như việc mang dầu dự trữ cho đèn, phòng trường hợp chú rể đến trễ.

Chi tiết nhỏ như việc hỏi các môn đệ xem họ có bao nhiêu ổ bánh.

Chi tiết nhỏ như việc nhóm lửa và nướng cá trong khi chờ đợi các môn đệ lúc rạng sáng” (GE s.144)

Nhìn về Maria Domenica Mazzarello

__________________________________________________

Trong viễn cảnh của việc chú tâm đến những chi tiết bé nhỏ của cuộc sống, của việc đánh giá đời sống thường nhật như một mảnh đất tốt để đón nhận, sống và truyền bá Lời Chúa, Maria Domenica Mazzarello chiếu tỏa một thứ ánh sáng dịu dàng và hấp dẫn. Chính Thánh nữ nói với các chị em của mình: “Lòng đạo đức thực sự hệ tại ở việc chu toàn mọi bổn phận đúng lúc, đúng nơi và chỉ vì yêu mến Chúa”.237 Thánh nữ có nghệ thuật đong đầy tình yêu vào những điều bé nhỏ và những sự kiện bình thường hàng ngày, làm cho chúng trở nên một nét đẹp. Khi áp dụng cho Thánh nữ cách diễn tả tuyệt vời của Thánh Phan-xi-cô Sa-lê: “Đời sống của các thánh là Tin Mừng được đem ra thực hành. Không có sự khác biệt nào khác giữa Phúc Âm được viết và cuộc đời của các thánh; cũng giống như không có sự khác biệt giữa bản nhạc được viết và bài nhạc được biểu diễn”,238 ta có thể nói rằng, cuộc đời của M. D. Mazzarello được trình bày như một bản nhạc tinh tế của Tin Mừng và được biểu diễn trong cuộc sống thường ngày bằng những nhạc cụ không trang hoàng nhưng với những nốt nhạc đơn sơ, trang nhã và trong trẻo, hài hòa với “bản giao hưởng của Lời” (VDs.7) vang vọng khắp vũ trụ và xuyên suốt lịch sử.


Chú thích

226 Bissoli Cesare, “Va’ e annuncia” Manuale di catechesi biblica, Leumann (TO), Elledici 2006, 191.

227 Đc Tertulliano, Contro Prassea 16,4.

228 Gregorio Magno, Commento morale a Giobbe II, 20,35.

229 Consiglio dell’associazione professori e cultori di liturgia (biên tập), Celebrarein Spirito e Verità. Sussidio teologico-pastorale per la formazione liturgica, Roma, Edizioni liturgiche 1992, 33.

230 Gaudium et Spes 22.

231 ĐTC PHAN-XI-CÔ, Thông điệp Laudato Sì, 2015, 98.

232 Gaudium et Spes 1.

233 Conferenza Episcopale Italiana, La verità vi farà liberi, Catechismo degli adulti, Vaticano, LEV, 1995, s.948, p. 458.

234 Apostolicam actuositatem 4.

235 Bello Antonio, Maria donna dei nostri giorni, Cinisello Balsamo (MI), Paoline 1993,13.

236 ĐTC PHAO-LÔ VI, Tông huấn Hãy vui mừng trong Chúa, 1975, III.

237 Maccono II, 57.

238 Francesco di Sales, Trattato dell’amore di Dio o Teotimo (do Balboni Ruggero biên tập), Milano, Paoline 2013, 46.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026