FMA Logo

Chương 6 - Sự khôn ngoan được ban tặng bởi thần khí



Ha Fong Maria KO

Đề cập đến Giáo hội trong những năm đầu tiên sau Công đồng, Đức Phao-lô VI đã khẳng định: “Giáo hội chúng ta đang sống những giờ phút đặc biệt của Thánh Thần. Khắp nơi, người ta tìm cách nhận biết đúng hơn về Ngài như Kinh Thánh mạc khải. Người ta hân hạnh để Ngài điều động, người ta tụ họp quanh Ngài, người ta muốn để cho Ngài dẫn dắt”.251 Thực vậy, Giáo hội đã ý thức hơn về vị trí ưu việt của Thần Khí trong đời sống của mình. Giáo hội đã nhận ra một cách sâu sắc hơn sứ vụ của Thần Khí trong tương quan với Lời Chúa. Nhờ tác động của Thánh Thần mà Lời Thiên Chúa được diễn tả bằng ngôn ngữ nhân loại. Trong nhiệm cục cứu độ duy nhất, Thần Khí hoạt động trong công trình tạo dựng cũng chính là Đấng hành động trong việc nhập thể của Ngôi Lời, cũng là Đấng hướng dẫn Đức Giê-su trong suốt sứ vụ của Người và là Đấng được hứa ban cho các môn đệ. Cũng chính Thần Khí đã nói qua các ngôn sứ, đã linh hứng cho các tác giả sách Thánh, nâng đỡ Giáo hội trong việc rao giảng và làm cho tâm hồn các tín hữu trở nên ngoan thuần.252

Thực tại của việc linh hứng không thụ động, không bị trói buộc vào quá khứ, không bị giản lược trong một suy tư giáo điều đơn thuần hay trong những cuộc tranh luận thần học, nhưng cho thấy sự hiện diện mầu nhiệm và năng động của Chúa Thánh Thần, cả trong quá trình soạn thảo bản văn Kinh Thánh cũng như trong quá trình đọc, nghe, loan báo Lời. Chúa Thánh Thần “thở” trong Sách Thánh lẫn trong những ai đón nhận và sống theo Kinh Thánh.

1. Kinh Thánh thông truyền hơi thở của Thiên Chúa

Khi một người nói, một luồng hơi, một phần khí, một hơi thở xuất ra khỏi miệng người đó: lời và khí, trong tiếng Do Thái dabarruah, có mối tương quan mật thiết với nhau, chúng là một thực tại không thể tách rời. Điều này cũng đúng ở cấp độ thần học - Kinh Thánh. Vì thế, trong câu chuyện của sách Sáng Thế, Thiên Chúa tạo dựng không chỉ bằng lời mà còn bằng khí của Người - “thần khí bay là là trên mặt nước” (St 1,2), “sinh khí” được Người thổi vào lỗ mũi của người đàn ông được tạo nên từ bụi đất (St 2,7).

Điều tương tự cũng xảy ra trong Sách Thánh: lời của con người chất chứa Lời của Chúa, được đong đầy sinh khí thần thiêng: “Chúa Thánh Thần không chỉ linh hứng cho các tác giả Kinh Thánh tìm ra những lời chứng thích hợp, mà còn giúp các độc giả Kinh Thánh ở mọi thời hiểu được Lời Chúa trong ngôn ngữ nhân loại của Sách Thánh”.253 Chúa Thánh Thần cư ngụ trong Kinh Thánh, Người đã chăm cho sự ra đời, vẫn tiếp tục sinh động hóa và phong phú Kinh Thánh bằng hơi thở sự sống của Người.

Tóm lại: Kinh Thánh “được linh hứng” (bị động) và đồng thời “có khả năng linh hứng” (chủ động). Chính theo nghĩa này mà Dei Verbum xác định: “Kinh Thánh, được Thiên Chúa linh ứng (linh hứng thụ động!) và được ghi chép một lần cho mãi mãi, truyền đạt Lời của chính Thiên Chúa cách bất di bất dịch và làm vang dội tiếng Chúa Thánh Thần trong lời của các Ngôn sứ và các Tông đồ (linh hứng chủ động!)” (DV s.21).254 Vì lý do đó, tài liệu này cũng nói rằng Kinh Thánh phải được “đọc và giải thích với sự trợ giúp của cùng một Thánh Thần mà nhờ đó Kinh Thánh được viết ra” (DV s.12). Các Giáo phụ cống hiến cho chúng ta những suy tư rất phong phú về thực tại này. Ô-ri-gê-nê viết: “Các Sách Thánh hít thở Thần Khí tràn đầy và không có gì trong các Ngôn sứ, trong Lề luật, trong Phúc Âm hay nơi các Tông đồ mà không phát xuất từ ​​sự tròn đầy của sự cao trọng thiêng liêng. Do đó, ngày nay Kinh Thánh vẫn hít thở những ngôn từ của sự tròn đầy và thông truyền sinh khí cho những người vừa có mắt để nhìn những thực tại trên trời, vừa có tai để nghe những điều thiêng liêng và có mũi để cảm nhận được hơi thở đến từ sự viên mãn”.255 Thánh Am-brô-si-ô nhận định: “Tất cả Kinh Thánh hít thở sự tốt lành của Thiên Chúa”.256

Hơi thở thần linh đã ban sự sống cho A-đam trong tạo dựng, cũng là chính thần khí khôn ngoan “ngập tràn cõi đất, bảo toàn mối hiệp nhất giữa muôn vật muôn loài, thấu hiểu hết mọi lời mọi tiếng” (Kn 1,7); cũng chính đây là dòng chảy yêu thương biến đổi mọi trái tim được ẩn giấu trong một cuốn sách, được bao phủ bởi ngôn ngữ hạn hẹp của con người, để có thể tiếp cận được với những người nam người nữ trong mọi thời đại và nơi chốn. Chính đây là thực tại kỳ diệu của Kinh Thánh: cái vô hạn cư ngụ trong cái hữu hạn, cái “hơn” ở trong sự “ít ỏi”, năng động lực sống động nằm trong cái tĩnh và tuân theo các quy tắc cố định của một văn bản. Nội dung vượt trổi vật chứa, mầu nhiệm kín ẩn thăng hoa sự biểu hiện của chính mình. Trong Kinh Thánh, mỗi từ ngữ đều trĩu nặng vì quá tải; mỗi hình ảnh, mỗi lối diễn tả đều được mời gọi nỗ lực trổi vượt trong khả năng thông truyền của chính mình. E. Levinas nói, trong mỗi từ có một “sự tích tụ đáng ngạc nhiên của cái vô hạn”, vì thế, người đọc phải “vượt lên câu chữ”.257 Đây là mầu nhiệm của sự nhập thể, của sự hạ cố của Thiên Chúa, của kenosis, của sự chết và phục sinh.

Cái “vượt trên”, “vượt trội” không thể đạt được chỉ bằng hoạt động trí tuệ đơn thuần, đó là phạm vi đặc biệt mà Thần Khí hoạt động, Người hoạt động trong trí, nhưng trên hết là trong tâm. Người soi sáng, ban sự khôn ngoan nhưng cũng sưởi ấm trái tim, thông truyền yêu thương. Theo Kinh Thánh, trái tim là trung tâm của con người, có khả năng vượt qua ranh giới của lý trí và trực giác được điều nhiệm mầu. Chính nơi đó, cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người được cử hành. Chính nơi đó, Lời Chúa được đón nhận, bén rễ sâu, trưởng thành, lớn lên và biến đổi cuộc đời.

Vì thế, chúng ta tiếp cận Lời Chúa với lòng khiêm nhường và sự ngoan thuần, không quá kỳ vọng, đừng đoán trước những kết quả, nhưng cởi mở và biết ơn, sẵn sàng đón nhận hơi thở sự sống của Thần Khí, Đấng “muốn thổi đâu thì thổi” (Ga 3,8), sẵn sàng trước những bất ngờ, đắm mình trong vô tận, trong sự thinh lặng đầy cảm kích, bởi lẽ sự khôn ngoan của Thiên Chúa thì bao la: “Người đầu tiên chẳng biết hết khôn ngoan, kẻ cuối cùng cũng không hiểu thấu” (Hc 24,28).

2.Sự khôn ngoan để hiểu cõi lòng Thiên Chúa

Trong Cựu Ước, có nhiều điểm nói về “Thần Khí khôn ngoan” hoạt động trong dân Ít-ra-en và trong các cá thể. Môi-sê mong muốn điều đó cho toàn dân: “Phải chi họ đều là ngôn sứ! Và Đức Chúa đã ban Thần Khí của Người trên họ!” (Ds 11,29). Khát vọng này trở thành một lời hứa cánh chung của Thiên Chúa qua lời loan báo của ngôn sứ Giô-en: “Ta sẽ tuôn đổ thần khí của Ta trên mọi người và mọi con trai con gái của các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ” (Ge 3,1), một lời hứa mà Giáo hội sơ khai đã thấy thành toàn ngày ngày Hiện Xuống (x. Cv 2,17). Đối với những ai được Thiên Chúa trao phó cho một sứ mệnh đặc biệt, thì Thần Khí cũng ban cho người ấy khả năng dễ dàng nhận biết Thiên Chúa và ý muốn của Người. I-sa-i-a nói về Đấng Mê-si-a sắp đến: “Thần Khí của Chúa sẽ ngự trên Người, thần khí khôn ngoan và thông hiểu” (Is 11,2). Hồng ân này có thể được nhận thấy cách rõ ràng ở một số cá nhân nổi bật nhưng hiện diện cách kín đáo hơn - tuy không kém phần mạnh mẽ và hiệu quả - nơi những người đơn sơ: “Sự khôn ngoan, qua các thời đại, đi vào những tâm hồn thánh thiện, biến họ thành những người bạn của Chúa và các nhà tiên tri” (Kn 7,27).

Trong Tân Ước, sự hướng dẫn này của Thần Khí đã được chính Chúa Giê-su tiên báo và phán hứa. Người nói rõ ràng trong diễn từ biệt ly: “Đấng An Ủi, là Thần Khí mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Người sẽ dạy anh em mọi điều và nhắc nhở anh em mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26); trước khi rời bỏ thế gian này để về với Cha, Người hứa: “Các con sẽ nhận được sức mạnh từ Thánh Thần, Đấng sẽ ngự xuống trên các con và các con sẽ là chứng nhân của Thầy [...] cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Trong cuộc đời trần thế của Chúa Giê-su, không phải lúc nào các môn đệ của Người cũng hiểu được ý nghĩa sâu xa của những lời nói, cử chỉ của Người, lại càng không hiểu được mầu nhiệm Vượt Qua của Người, một mầu nhiệm vượt quá trí hiểu con người. Các thánh sử kể cho chúng ta về điều đó không chút do dự. Rõ ràng là từ việc sống với Đức Giê-su đến việc biết Người cách sâu sắc, có thể làm chứng và loan báo cho Người không phải là một bước chuyển tự động. Đức Giê-su biết rõ rằng lời loan báo của Người vượt quá khả năng hiểu biết thực tế của các môn đệ, nên cần hành động của Chúa Thánh Thần để nâng cao tâm trí: “Thầy vẫn còn nhiều điều muốn nói với anh em, nhưng hiện tại anh em không thể hiểu hết được. Nhưng khi Thần Khí sự thật đến, Người sẽ hướng dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16,12-13). Chúa Thánh Thần “dạy dỗ” và “nhắc nhở”, nghĩa là Người tạo ra những mối tương quan, giúp sống một cách mãnh liệt, làm cho chúng ta hiểu thấu đáo mạc khải của Đức Giê-su. Thánh Gio-an tông đồ viết trong thư gửi cho các tín hữu như sau: “Anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết”; “dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Ki-tô ở lại trong anh em và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa […], dầu của Người dạy dỗ anh em mọi sự” (1Ga 2, 20,27). Tác giả sách Khải Huyền nhiều lần khuyến khích các Giáo hội chú ý đến lời sống động của Thần Khí trong tính cụ thể của lịch sử: “Ai có tai, hãy nghe điều Thần Khí phán cùng các Hội thánh” (Cv 2,7 và những đoạn khác).

Trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, các Giáo phụ đã cảm nghiệm được sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong mọi lĩnh vực của đời sống Giáo hội, trong việc củng cố và xây dựng tiệm tiến của Giáo hội, trong sứ mệnh và tương quan của Giáo hội với thế giới, đặc biệt, Người hoạt động thật sống động và mãnh liệt trong việc lưu truyền ký ức về Chúa Giê-su được khắc ghi trong các Sách Thánh. Thánh Thần dẫn dắt họ đến một sự hiểu biết khôn ngoan Kinh Thánh. Vì sự gần gũi không chỉ về mặt thời gian mà trên hết là về mặt tinh thần với Đức Ki-tô - trung tâm của mặc khải - các Giáo phụ luôn là những người nổi trội hơn người khác “về trực giác ngọt ngào đối với các thực tại trời cao và về một trí óc nhạy bén tuyệt vời, nhờ đó các ngài có thể thấu hiểu chiều sâu của Lời thánh liêng và đưa ra ánh sáng những gì có thể giúp minh họa giáo lý của Đức Ki-tô và thúc đẩy sự thánh thiện của đời sống”.258 Thánh Gio-an Kim Khẩu nói: “Kinh Thánh không được ban cho chúng ta để chỉ được in vào sách, nhưng là để được nhào nặn vào lòng chúng ta”.259 Thánh Grê-gô-ri-ô Cả khẳng định: “Làm sao chúng ta hiểu được cõi lòng của Thiên Chúa, nếu không phải từ Kinh Thánh của Người? […] Bởi lẽ, chính trong Lời thánh thiêng mà chúng ta biết được những ý định của Thiên Chúa toàn năng và chính nơi Lời, chúng ta khám phá ra tình yêu mà Người dành cho loài người”.260 Nhiều thế kỷ sau, ngay cả thánh Tô-ma A-qui-nô, khi so sánh độc giả với người môn đệ được Đức Giê-su thương mến - người đã tựa đầu vào ngực Chúa Giê-su - khẳng định rằng việc đọc Kinh Thánh hệ tại việc “hiểu rằng Kinh Thánh bày tỏ tâm hồn của Đức Ki-tô qua chính trái tim của Đức Ki-tô”.261

Được Thánh Thần linh hứng, Kinh Thánh không những “truyền khí” của Thiên Chúa vào con người mà còn làm cho con người được “quyện khí” với Thiên Chúa, nói cách khác, Kinh Thánh là nhịp cầu từ cõi lòng này sang cõi lòng kia, từ lòng Chúa đến cõi lòng con người và ngược lại. Bước vào trái tim Thiên Chúa, người đọc cảm nghiệm được chương trình yêu thương của Người, hòa nhịp với sự khôn ngoan của Người; dần dần đạt đến những điều mà thánh Phao-lô nói: “có cùng suy nghĩ với Đức Ki-tô” (1Cr 2,16), “có cùng cảm xúc với Đức Ki-tô” (Pl 2,5), có “cùng một tinh thần khôn ngoan” (Ep 1,17), cùng được “soi lòng mở trí” (Ep 1,18), và có khả năng “nhận biết ý muốn của Thiên Chúa với tất cả sự khôn ngoan và sự hiểu biết thần thiêng” (Cl 1,9).

Tuy nhiên, với tư cách là Lời Thiên Chúa được viết bằng ngôn ngữ con người Kinh Thánh không phải là tuyệt đối: chức năng của Kinh Thánh gắn liền với sự tồn tại mang tính lịch sử và ngẫu nhiên của chúng ta. Lời Thiên Chúa là vĩnh cửu và không bao giờ qua đi, Kinh Thánh thì không như thế. Vai trò là nhịp cầu nối kết giữa trái tim Thiên Chúa và trái tim con người của Kinh Thánh sẽ kết thúc, khi trong trái tim đã có mối liên hệ trực tiếp. Sẽ đến một ngày, giống như nhà tiên tri của sách Khải Huyền, chúng ta có thể quay lại để “xem tiếng ai nói” (Kh 1,12) - tiếng của Đấng đã nói với chúng ta qua các chữ viết - chúng ta sẽ ngừng đọc Kinh Thánh và chiêm ngưỡng Người diện đối diện, khi đó, nỗ lực giải mã các chữ viết cũng sẽ chấm dứt. Thánh Au-gút-ti-nô có một trang tuyệt đẹp về điều này:

“Khi Chúa trở lại, đó sẽ là một ngày rực rỡ đến nỗi không còn cần đèn nữa. Không còn cần đọc sách Tiên tri, cũng không cần mở sách của các Tông đồ, không cần tìm lời chứng của Gio-an, thậm chí cũng sẽ không còn cần Tin Mừng. Vì vậy, tất Kinh Thánh sẽ bị loại bỏ, giống như khi những ngọn đèn được thắp sáng cho chúng ta trong bóng đêm thế kỷ, để chúng ta còn không ở trong bóng tối [...]. Bỏ qua một bên tất cả những phương tiện trợ giúp này, chúng ta sẽ thấy gì? Tâm trí của chúng ta sẽ dựa vào cái gì? Cuộc sống của chúng ta sẽ vui thích với điều gì? Niềm vui mà mắt chưa thấy, tai chưa nghe và lòng người chưa hề nghĩ đến sẽ từ đâu mà đến? Chúng ta sẽ thấy gì? […] Bạn sẽ đến suối nguồn mà từ đó một vài giọt đã chạm tới bạn; bạn sẽ thấy rõ nguồn sáng mà một cách gián tiếp và uốn khúc, một tia sáng đã chiếu đến trái tim còn bị bao trùm trong bóng tối và cần được thanh tẩy của bạn. Cuối cùng bạn sẽ có thể nhìn thấy ánh sáng đó và chịu được sự rực rỡ của nó”.262

Nhìn về Maria Domenica Mazzarello

_____________________________________________________

Trong suốt lịch sử của Giáo hội và cho đến ngày nay, nhiều lớp người thánh thiện, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, đã sống sứ điệp Tin Mừng một cách sâu sắc, mặc dù họ không được trực tiếp đọc Kinh Thánh. Trong số đó, Maria Mazzarello rõ ràng là một mẫu gương điển hình. Làm linh hướng cho Thánh nữ 27 năm, Cha Domenico Pestarino đã viết về Thánh nữ: “Maria hầu như không biết viết, biết đọc chút ít nhưng nói cách tinh tế và tinh tường về những điều thuộc nhân đức với một sự thuyết phục và rõ ràng, mà chỉ có Chúa Thánh Thần linh hứng mới được như thế”.263 Cha Ferdinando Maccono - người viết tiểu sử của Thánh nữ - đã ghi nhận khi nói về các lá thư của Thánh nữ: “Mẹ không bao giờ mơ tưởng đến việc trích dẫn Kinh Thánh: Mẹ viết những gì trái tim Mẹ mách bảo và những lời của Mẹ không phải là những câu thuộc lòng mà là cuộc sống thực. Tôi có thể nói rằng, đó là những lời thì thầm của Thần Khí, Đấng thổi nơi nào Người muốn, đặc biệt trong những tâm hồn đơn sơ giản dị”.264


Chú thích

251 Evangelii nuntiandi 75.

252 Đc Verbum Domini s.15. Những lời của Đức Phao-lô VI trong Evangelii nuntiandi 75 thật sáng suốt: “Thánh Thần khiến Phê-rô, Phao-lô và nhóm mười hai nói, đặt vào miệng họ những lời phải công bố, Thánh Thần cũng xuống “trên những người nghe Lời Chúa” (Cv 10,44). […] Ngày nay cũng như buổi đầu của Giáo hội, Chúa Thánh Thần hoạt động trong mỗi nhà truyền giảng Tin Mừng, nếu họ để Người chiếm hữu và hướng dẫn. Người đặt nơi môi miệng họ những lời mà một mình họ không thể tìm ra, đồng thời sửa soạn tâm hồn của những người nghe để họ mở rộng đón nhận Tin Mừng và Nước Trời đang được loan báo”.

253 Ủy ban Thần học Quốc tế, Thần học ngày nay: các quan điểm, nguyên tắc và tiêu chí, 2012, 8.

254 Phần trong ngoặc đơn là chú thích của tôi.

255 Origene, Omelie su Geremia L. II, 2. 64.

256 Ambrogio, Commento ai Salmi I, 4.

257 Lévinas Emmanuel, L’audela du verset: Lectures et discours talmudiques (Collection Critique), Paris, Les Editions de Minuit 1982.

258 Pio XII, Divino afflante Spiritu. Il modo più opportuno di promuovere gli studi biblici, 1943, trong Enchiridion Biblicum, 554.

259 Giovanni Crisostomo, Omelie sul Vangelo di Matteo I, 1.

260 Gregorio Magno, Commento al I Libro dei Re II, 101,2.

261Per cor Christi intellegitur Sacra Scriptura quae manifestat cor Christi”: Tommaso d’Aquino, Commento ai Salmi 21,11.

262 Agostino, Commento al Vangelo di Giovanni, 35,9.

263 Hồi sử I 308.

264 Maccono Ferdinando, Quindici lettere di Suor Maria Domenica Mazzarello con annotazioni, Torino, Istituto FMA 1932, 6.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026