FMA Logo

Chương 7 - Trực giác thiêng liêng đối với những điều thuộc về Thiên Chúa



Ha Fong Maria KO

Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn” (Lc 10,21): Đức Giê-su đã diễn tả lời ngợi khen của Người như thế trong giây phút hân hoan vui sướng. “Những điều này” là gì? Là “mầu nhiệm của Nước Trời” (Lc 8,10; Mt 13,11), là kế hoạch đầy nghịch lý của Thiên Chúa vượt trên lý luận nhân loại, là những kỳ công Thiên Chúa thực hiện để đem tình yêu của Người đến cho toàn thể nhân loại. Đó là “những điều kỳ diệu” (Lc 1,49) mà Mẹ Maria tạ ơn Thiên Chúa qua lời kinh Magnificat. Đó là “những điều” mà thánh Phao-lô nói “điều mà mắt chưa hề thấy, tai chưa từng nghe và lòng người chưa hề nghĩ đến rằng Thiên Chúa đã “chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài” (1Cr 2,9). Theo khái niệm được Dei Verbum tóm kết, mạc khải của Thiên Chúa là một sự “tự mạc khải”, “tự thông truyền”, do dó, điều mà Thiên Chúa muốn mạc khải cho chúng ta chỉ có một “điều” duy nhất: là chính Ngài.

Chúng ta đã nói về bản chất đáng kinh ngạc của Kinh Thánh vốn khơi dậy sự ngạc nhiên, trong đó cái “hơn” nằm trong cái “ít ỏi” và “những điều này” mà Đức Giê-su nói đến vượt ra ngoài bản văn và các thực hành chú giải. Thật vậy, việc giải thích Kinh Thánh không chỉ đạt được nhờ công việc của các nhà thần học và huấn quyền của Giáo hội. Dei Verbum công nhận rằng có một kiểu hiểu biết cụ thể bên cạnh kiểu hiểu biết theo phương pháp: việc hấp thụ sự phong phú khôn lường của Lời Chúa “với kinh nghiệm cụ thể đến từ một sự hiểu biết sâu sắc đối với những điều thiêng liêng” (DV s.8). Tuyên bố này được Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo265 khẳng định lại và được khai triển thêm trong một văn bản của Ủy ban Thần học Quốc tế như sau: “Việc giải thích Kinh Thánh “được hoàn thành dưới ánh sáng của đức tin; nó nhận được sự thúc đẩy từ các đoàn sủng và chứng từ của các thánh mà Thần Khí Thiên Chúa ban cho Giáo hội trong một thời đại nhất định”. Trong số những đặc sủng này phải kể đến “chứng tá ngôn sứ của các phong trào thiêng liêng và sự khôn ngoan nội tâm bắt nguồn từ kinh nghiệm tâm linh của giáo dân được tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa”.266

1.Bản năng của niềm tin

“Sự hiểu biết sâu xa về những điều thiêng liêng” hay “những điều thuộc về Thiên Chúa” hướng chúng ta đến một thực tại luôn hiện diện trong đời sống Giáo hội, đã trở thành đối tượng được chú ý đặc biệt trong Công đồng Vatican II và trong thần học hậu công đồng: cảm thức đức tin (sensus fidei) hay bản năng đức tin. Một tài liệu từ Ủy ban Thần học Quốc tế liên quan đến chủ đề này, mô tả bản năng đức tin này như sau:

“Đó là một loại bản năng tâm linh cho phép tín hữu đánh giá một cách tự nhiên một giáo huấn hoặc một thực hành cụ thể có phù hợp với Tin Mừng và đức tin tông truyền hay không [...]. Đây được ví như một bản năng, bởi vì trước hết, nó không là kết quả của sự suy xét duy lý, đúng hơn nó là một sự nhận biết tự phát và tự nhiên, một loại trực giác (aisthêsis). […] Đây cũng không phải là kiến ​​thức suy tư về những mầu nhiệm của đức tin qua việc phát triển các khái niệm và sử dụng các tiến trình tư duy để đi đến kết luận. Như tên gọi cho thấy, “sensus” tương tự với một phản ứng tự nhiên, tức thì và tự phát, có thể so sánh với một bản năng sinh tồn hoặc một loại “trực cảm” mà tín hữu tự nhiên tuân theo những gì phù hợp với chân lý đức tin và tìm tránh những gì đối nghịch”.267

“Bản năng” này mang hình thức của một “bản chất thứ hai”268 hoặc xuất hiện dưới dạng “giác quan thứ sáu”,269 nó là quà tặng của Chúa Thánh Thần cho toàn thể Giáo hội và cho tất cả các tín hữu đã nhận bí tích Thánh Tẩy, miễn là họ thông dự vào ba chức vụ của Đức Ki-tô là ngôn sứ, tư tế và vương đế theo cách riêng của mỗi người. Khi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dân, Công đồng Vatican II đặc biệt dạy rằng Đức Ki-tô thi hành chức vụ ngôn sứ không chỉ qua thẩm quyền phẩm trật, mà còn trong vai trò giáo dân.270 Rõ ràng những người có thẩm quyền và các nhà thần học, trước hết đều là những Ki-tô hữu đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy và vì điều này, họ được hưởng hồng ân về bản năng đức tin. Đồng thời, họ bảo đảm tính xác thực của hồng ân này, giúp các tín hữu nhận ra hồng ân đó và diễn tả hồng ân ấy một cách hài hòa với mọi hồng ân mà Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội. Bao lâu người Ki-tô hữu lớn lên trong sự đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, yêu mến Thiên Chúa và anh chị em mình, tham gia tích cực vào đời sống và sứ mệnh của Giáo hội, thì các ân huệ của Chúa Thánh Thần thể hiện nơi người ấy, dẫn đưa người ấy đến việc am hiểu “với tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng” (Cl 1,9) về những gì thuộc về Thiên Chúa. Những hồng ân này giúp các tín hữu sống cuộc sống hàng ngày của họ một cách khôn ngoan, đối diện với những biến cố lớn nhỏ, bình thường và bất ngờ, vui mừng cũng như đau khổ, giúp họ nhận ra thái độ cần có, ngay cả trong những tình huống phức tạp.

Bản năng siêu nhiên này được ban tặng cho tất cả các tín hữu nên phải được tỏa sáng rõ ràng nhất nơi những người tuyên bố “theo Đức Ki-tô như Tin Mừng dạy” (PC s.2), cũng như những người muốn họ trở nên “ký ức sống động về sự hiện diện và hành động của Chúa Giê-su” (VC s.22). Tông huấn Perfectae caritatis cho thấy cách rõ ràng “bản năng” này giúp sống đời thánh hiến một cách đích thực như thế nào. Chẳng hạn, các tu sĩ sống khiết tịnh theo Đức Ki-tô “nhờ bản năng thiêng liêng sẽ biết cách từ chối bất cứ điều gì có thể gây nguy hiểm cho đức khiết tịnh” (PC s.12).

Sau Công đồng Vatican II, huấn quyền đã tái khẳng định bằng nhiều cách khác nhau về sự hiện diện và sức mạnh của “bản năng” được coi là “thiêng liêng”, “siêu nhiên”, “tin mừng”; hoặc nói cách đầy đủ hơn: “bản năng tin vào chân lý của Tin mừng”, “bản năng đức tin”, “cảm thức đức tin, cảm thức đức tin của người tín hữu”. Chẳng hạn Đức Gio-an Phao-lô II trong tông huấn Christifidelis laici khẳng định rằng, nhờ tham gia vào chức vụ ngôn sứ của Đức Ki-tô, người giáo dân được tham gia “vào đức tin siêu nhiên của Giáo hội”271 và trong tông thư Familiaris consortio ngài nhấn mạnh đến mối quan hệ bất khả phân ly giữa “cảm thức đức tin siêu nhiên của Giáo hội” và sự hướng dẫn dân Chúa qua lời dạy của các mục tử.272 Trong buổi cầu nguyện kinh truyền tin đầu tiên, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trích dẫn lời của một bà lão khiêm tốn mà ngài từng gặp: “Nếu Chúa không tha thứ cho mọi thứ, thế giới sẽ không thể tồn tại”. Đức Thánh Cha còn ngưỡng mộ nói thêm: “Đây là sự khôn ngoan mà Chúa Thánh Thần ban cho”.273 Vài tháng sau, trong tông huấn Niềm vui Tin Mừng, ngài viết:

“Thiên Chúa ban cho toàn thể các tín hữu một bản năng đức tin -sensus fidei- giúp họ nhận ra điều gì thực sự đến từ Thiên Chúa. Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần ban cho các Ki-tô hữu một sự đồng nhất nhất định với các thực tại thần linh, cũng như một sự khôn ngoan cho phép họ tiếp nhận các thực tại này bằng trực giác, mặc dù họ không có đủ công cụ để diễn đạt chúng một cách chính xác” (EG s.119).

2. Bản năng đức tin và việc lắng nghe Lời Chúa

Dĩ nhiên, hồng ân bản năng thiêng liêng từ Chúa Thánh Thần luôn hoạt động khi các Ki-tô hữu tiếp nhận Lời Thiên Chúa trong các sách được linh hứng và qua nhiều kênh trung gian khác nhau. Thật vậy, “kinh nghiệm hiểu biết sâu sắc đối với những điều thiêng liêng” (DV s.8) là một trong những yếu tố quan trọng trong sự tiến triển của Giáo hội trong việc không ngừng phấn đấu hướng tới sự viên mãn của chân lý thần linh, nghĩa là hướng tới sự hoàn thành lời Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, khi loan báo về một “giao ước mới”, các ngôn sứ đã tiên kiến về một loại bản năng thiêng liêng như một sự nội tâm hóa Lời Thiên Chúa cách tự phát, nghĩa là, bản năng thiêng liêng không chỉ là kết quả của việc học hỏi và nghiên cứu, mà còn là một món quà đến từ Thiên Chúa, Đấng đã tuyên bố: “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: “Hãy học cho biết Đức Chúa”, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta” (Gr 31,31-34). Vì vậy, vấn đề không phải là một kiến ​​thức mới, mà là một trái tim mới, một tinh thần mới. “Ta sẽ ban cho các ngươi một trái tim mới, Ta sẽ đặt thần khí vào lòng các ngươi […] để các ngươi đi theo các thánh chỉ của Ta và tuân giữ cùng thi hành các quyết định của Ta” (Ed 11,19-20).

“Giao ước mới” với những Lề luật được viết trong lòng đã được nên trọn nơi Chúa Giê-su. Sự hiểu biết sâu xa về Lời Thiên Chúa giờ đây phát sinh từ sự hiệp thông tình yêu với Người, Ngôi Lời nhập thể hằng sống: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy” (Ga 14,23). “Giao ước mới” hệ tại ở một “con tim mới” tràn ngập tình yêu, như thánh Phao-lô nói: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Ai không có tình yêu thì không thể hiểu Kinh Thánh. Thực vậy, Chúa Giê-su quở trách những kẻ chống đối Người: “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời […] Nhưng tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa” (Ga 5,39.42). Một tư tưởng tương tự cũng được tìm thấy trong hình ảnh ẩn dụ về người mục tử nhân lành: “Các con chiên đi theo [người chăn hiền lành] vì chúng quen tiếng anh. Nhưng người lạ, chúng sẽ không theo, mà sẽ chạy trốn, vì chúng không quen tiếng người lạ” (Ga 10,4-5). Ở bên nhau lâu ngày tạo sự thân quen, sự hiệp thông yêu thương khiến chiên nhận ra tiếng của người mục tử và biết được tâm tư, suy nghĩ của anh ta, như thánh Phao-lô đã khẳng định một cách mạnh mẽ, vui tươi: “Bây giờ, chúng ta có chính tư tưởng của Đức Ki-tô” (1Cr 2,16). Vì lý do này, thánh Phao-lô có thể khuyến khích các Ki-tô hữu: “Anh em hãy có cùng tâm tình của Đức Giê-su Ki-tô” (Pl 2,5). Phao-lô cũng khen ngợi người Thê-xa-lô-ni-ca: “Vì khi chúng tôi nói cho anh em nghe lời Thiên Chúa, anh em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy. Lời đó tác động nơi anh em là những tín hữu” (1Tx 2,13). Chính sự đồng điệu của con tim làm cho chúng ta nhận ra Lời Thiên Chúa trong ngôn ngữ con người, làm cho chúng ta nhận ra “tiếng” của Đức Ki-tô ngay cả trong lối viết khô cứng và tĩnh lặng. Sự hòa hợp này thường làm rung lên những âm hưởng bí mật của bản văn thánh, tái diễn nó trong tất cả sự thuần khiết, làm nảy mầm những tiềm năng mà khoa chú giải khoa học khó khăn lắm mới chinh phục được.

“Bản năng thiêng liêng” hỗ trợ như thế nào trong việc lắng nghe Lời Chúa của những người thánh hiến, là những người tuyên khấn “theo Đức Ki-tô cách tự do hơn và bắt chước Người cách chặt chẽ hơn” (PC s.1)? Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II có những lời tuyệt vời về điểm này trong Tông huấn Đời sống Thánh hiến. Khi bàn về các Đấng sáng lập thánh, ngài nói:

“Từ việc thường xuyên nghe lời Chúa, các Đấng Sáng lập đã rút ra ánh sáng cần thiết cho sự nhận thức cá nhân và cộng đoàn, giúp họ tìm kiếm đường lối Thiên Chúa trong các dấu chỉ của thời đại. Các ngài đã có được một thứ bản năng siêu nhiên giúp họ không rập khuôn theo não trạng thế gian, nhưng đổi mới tâm trí họ, “hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2)” (VC s.94).274

Những người có “bản năng siêu nhiên” này không chỉ có thể giải thích Kinh Thánh tốt hơn, mà còn gặp ít khó khăn hơn trong việc phân định các dấu chỉ của Thiên Chúa trong thực tế hàng ngày. Những ai đã quen hiểu Thiên Chúa trong lịch sử được Kinh Thánh thuật lại thì dễ dàng nhận ra Thiên Chúa trong lịch sử của chính họ và của thế giới hơn. Những ai quen thuộc với Lời Chúa thì nhạy bén hơn trong việc khám phá ra những “hạt giống của Lời” nảy mầm và lớn lên trong mảnh đất đời sống của dân Chúa và trong các nền văn hóa cũng như truyền thống khác nhau, ngay cả ở những nơi mà Tin Mừng chưa được biết đến cách chính thức. Được hồng ân này nâng đỡ, người tín hữu, nhất là những người sống đời thánh hiến, được trợ giúp để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô một cách mãnh liệt hơn, ngõ hầu khi đối diện với những bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, họ nhận thức được đâu là phương thế thích hợp nhất để nêu chứng tá đích thực cho chân lý của Đức Ki-tô. Dựa trên nền tảng Kinh Thánh đã được tiếp thu sâu sắc, người thánh hiến trực cảm được cõi lòng của Chúa, nắm bắt cách rõ ràng hơn phong cách Chúa hành động, không chỉ trong quá khứ, mà còn trong viễn cảnh tương lai. Tất cả vẻ đẹp này được tái khẳng định trong Tài liệu Sự phục vụ quyền bính và đức vâng phục, cụ thể trong đoạn nói về sự tuân phục Lời Thiên Chúa:

“Yêu thích việc tiếp chạm Lời Chúa hằng ngày dạy ta khám phá những đường lối và cách thức, mà qua đó, Thiên Chúa muốn giải thoát con cái của Người; đồng thời giúp ta nuôi dưỡng bản năng thiêng liêng đối với những điều đẹp lòng Chúa; thông truyền ý nghĩa và sự cảm nếm Thánh Ý Người; ban bình an và niềm vui khi sống trung thành với Người, làm ta nhạy cảm và sẵn sàng cho mọi biểu hiện của việc vâng phục: với Tin Mừng, đức tin, chân lý”.275

Nhìn về Maria Domenica Mazzarello

___________________________________________________

M. D. Mazzarello là một “người nữ khôn ngoan”,276 “một tâm hồn của Chúa Thánh Linh”,277 được trang bị “nhận thức siêu nhiên”.278 Nơi Thánh nữ, chúng ta tìm thấy một “trí thông minh thiêng liêng sâu xa”, “bản năng siêu nhiên” là điều không thể thiếu để bước vào trái tim của Thiên Chúa và trở nên đồng hình đồng dạng cách mật thiết với Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể. Nơi Thánh nữ, chúng ta cũng cảm nhận được “lực đẩy thiêng liêng”279 góp phần vào việc phát triển sự hiểu biết Kinh Thánh không chỉ dành cho cuộc sống cá nhân của Thánh nữ, cho tất cả những ai theo bước Thánh nữ, mà còn cho toàn thể Giáo hội. Những yếu tố, vốn vượt xa những gì là kết quả của nỗ lực học hỏi, nỗ lực của trí tuệ và luân lý, đồng thời, được các Giáo phụ của các thế kỷ đầu tiên và Huấn quyền hiện tại đánh giá cao, luôn chiếu tỏa một cách tự nhiên trong cuộc đời giản dị và trong sáng của Thánh nữ.


Chú thích

265 Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo cống hiến không chỉ số 91-93 để trình bày “cảm giác đức tin siêu nhiên” và các số 94-95 để minh họa về “sự tăng trưởng trong sự hiểu biết về đức tin” bắt đầu từ các tài liệu của Công đồng Vatican II

266 Ủy ban Thần học Quốc tế, Việc giải thích các giáo điều, 1990, III 3.2.

267 Commissione Teologica Internazionale, Il sensus fidei nella vita della Chiesa, 2014, 49 và 54.

268 Nt 53. Bản văn nhắc lại một số câu trích dẫn của thánh Tô-ma A-qui-nô, người có những suy tư rõ ràng và chính xác về chủ đề này.

269 Nt 52.

270 Đc Lumen Gentium s.12, 32,33; Apostolicam actuositatem, 2. Ủy ban Thần học Quốc tế, trước khi nghiên cứu chuyên đề về cảm thức đức tin - sensus fidei, đã đối chiếu với tài liệu trước đây, Thần học ngày nay: Quan điểm, nguyên tắc, tiêu chí, 2012. Trong tài liệu này, Ủy ban mạnh mẽ tái khẳng định các khẳng định của Công đồng vì Công đồng là một món quà cho toàn thể Giáo hội. Có thể đọc ở số 34: “Mỗi cảm thức đức tin không chỉ hiểu cách đơn giản là ý kiến ​​của đa số trong một thời đại hay nền văn hóa nhất định, cũng không chỉ đơn thuần là một khẳng định thứ yếu đối với những gì được Huấn quyền dạy trước đó. Cảm thức đức tin là niềm tin của toàn thể dân Chúa, vâng theo Lời Chúa và được các mục tử hướng dẫn trên con đường đức tin. Vì vậy, sensus fidei là tâm thức niềm tin đã bén rễ sâu nơi dân Chúa là những người đón nhận, hiểu và sống lời Chúa trong Giáo hội”.

271 Giovanni Paolo II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Christifidelis laici, 1988, 14.

272 Giovanni Paolo II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Familiaris consortio, 1981.

273 Francesco, Angelus, 17.3.2013, được trích trong Il sensus fidei nella vita della Chiesa, 2.

274 Ý tưởng tương tự cũng xuất hiện trong bài phát biểu của Đức Thánh Cha khi ngài nói về việc đào tạo các tu sĩ: “Cần phải nhấn mạnh rằng việc đào tạo các tu sĩ phải đặc biệt nhắm đến sự khôn ngoan của con tim, là ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho họ thực sự nên thân mật với Chúa và trở nên người hiểu biết sâu sắc về ý muốn của Chúa. Sự khôn ngoan này đóng góp cho sự cứu rỗi thế giới nhiều hơn là sự gia tăng các hoạt động bên ngoài mà không được linh hoạt bởi tinh thần siêu nhiên này”: Diễn văn trước Đại hội của Thánh bộ Đời sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ, ngày 1 tháng 12 năm 1988.

275 Thánh bộ Đời sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ, Sự phục vụ quyền bính và đức vâng phục, 2008, 7. Phần in nghiêng là của tôi.

276 Trong tác phẩm viết về thánh nữ với tựa đề Sự khôn ngoan của cuộc sống. Đc thêm Deleidi Anita - Ko Maria, Sulle orme di Madre Mazzarello, donna sapiente, Roma, Istituto FMA 1988.

277 Đc Dalcerri Lina, Un’anima di Spirito Santo. Santa Maria Domenica Mazzarello, Roma, Istituto FMA, 1981.

278 Testimonianza di Giovanni Cagliero, trong Summarium 421.

279 Maccono I, 239.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026