28. Con chim đa đa và con cút
Năm 1865; MB. VIII, 11
Những thái độ khác nhau của các thiếu niên đối với nhân đức và nết xấu.
Cha đi dạo với tất cả các thiếu niên của nguyện xá, và nhiều thiếu niên khác nữa mà cha chưa biết mặt. Lúc mới dừng chân ở một vườn nhỏ, đám trẻ đã vội vàng tản mác khắp nơi để đi hái quả.
Có đứa hái quả vả, đứa hái đào, còn một số khác đi hái nho; còn cha, cha cũng thu nhặt những trái vả hay trái nho để phân phát cho các thiếu niên. Cha tưởng mình đang ở trong giấc mộng thật. Cha mơ màng, nghĩ rằng việc này hơn kém chỉ là một giấc mộng. Sau cùng để trấn tĩnh, cha tự nhủ cứ để mặc cho các thanh thiếu niên ăn theo sở thích riêng, cho dù đó là giấc mộng hay không.
Sau đó, cha nhận ra có một người giữ vườn nho đang đứng giữa vườn. Khi đã lấy lại sức, cha cùng các thiếu niên tiếp tục băng qua vườn nho ấy. Cả khu vườn được đắp luống theo chiều dài, mà lối đi giữa các luống lại rất sâu, khiến mọi người phải lên xuống liên tục, làm cho bước chân ai nấy đều trở nên khó nhọc. Những đứa lớn thì còn có thể nhảy từ luống này sang luống khác, còn những đứa bé thì cố bắt chước làm theo, nhưng phần lớn đều bị rơi xuống kẽ luống, khiến cha vô cùng lo lắng. Sau cùng, cha nhìn thấy một con đường chạy dọc theo thửa vườn, liền lập tức dẫn các thiếu niên tiến về phía con đường ấy. Bỗng nhiên, người làm vườn giữ cha lại và nói với cha:
- Thưa cha, đường ấy không đi được đâu, nó đầy sỏi đá, gai nhọn và toàn bùn thôi, xin cha đừng đi ra con đường ấy. Tốt hơn cha cứ tiếp tục đi theo lối này.
Cha trả lời ông ta:
- Có lẽ ông có lý, nhưng ông xem các thiếu niên này thật quá nhọc mệt để đi qua các luống này.
- Cái ấy dễ làm cha ạ: cha cứ cho những đứa lớn cõng những đứa bé lên vai, bởi vì một trọng lượng quá nhỏ như thế chúng vẫn có thể nhảy qua được một cách dễ dàng.
Vì nghi ngờ lời khuyên của người giữ vườn, cha tiếp tục dẫn các thiếu niên tiến về phía con đường, nhưng rồi cha nhận ra là người ấy có lý. Quả thật, con đường ấy không thể đi được.
Quay về phía cha Francesia, cha gọi lớn: "Thật là tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa", thôi chúng ta cứ thử theo lời khuyên của ông giữ vườn mà băng qua thửa vườn đó đi. Ra được khỏi thửa vườn, chúng ta lại gặp phải một bờ dậu đầy gai góc chặn ngang lối, cha đã phải khó nhọc lắm mới mở được một lối để qua. Qua khỏi bờ dậu là lối xuống một thung lũng; nơi đây là một cánh đồng với những thảm cỏ xanh mượt và tỏa rợp bóng mát rười rượi.
Nơi đây cha gặp hai cựu học viên của nguyện xá, hai em rất hoan hỷ được gặp lại cha. Tay bắt mặt mừng một lát, một trong hai cựu học viên giơ cho cha xem hai con chim đang cầm trong tay.
Cha hỏi cậu:
Chim gì vậy?
Cậu ta giơ từng con một ra và trả lời cha:
Thưa cha, một con chim đa đa và một con cút.
Nói xong, cựu học viên đó trao cho cha con chim đa đa. Thật là tuyệt đẹp, một con đa đa còn khá non và nhí nhảnh. Cha rất đỗi ngạc nhiên vì khi cha muốn cho con chim ăn thì cha thấy chiếc mỏ của nó chia làm bốn. Cha quay lại hỏi thì cậu ta giải thích cho cha:
- Thế ra cha mà cũng không biết là chiếc mỏ của con chim đa đa biểu hiệu cho chính loài chim ấy sao?
- Đúng thế con ạ, cha không biết.
- Thế thì thưa cha, chim đa đa tiếng latinh là gì ạ?
- Perdrix
- Đúng lắm, bây giờ thì cha đã có chìa khóa của cái mầu nhiệm này.
- Nhưng … cha cũng chẳng hiểu gì hơn.
- Vậy thì xin cha nghe đây: cha hãy phân tích rời từng chữ của tiếng ấy ra xem sao?
P: Có nghĩa là Perseverantia — tức là lòng bền bỉ, kiên trì.
E: Nghĩa là Aeternitas te expectat — vĩnh cửu đang chờ đợi con.
R: Nghĩa là Referet unusquisque secundum opera sua — mỗi người sẽ phải chịu trách nhiệm về điều tốt hay điều xấu do chính việc làm của mình.
D: Nghĩa là Dempto nomine — bị xóa tên, tức là một khi đã đánh mất danh dự, tri thức, của cải và cả tiếng tăm của mình.
I: Nghĩa là Ibit — nghĩa là “nó sẽ đi”.
Chiếc mỏ được chia làm bốn phần, và mỗi phần tượng trưng cho một trong bốn chữ cuối cùng ấy.
- Thế ra vậy, con nói đúng. Nhưng còn chữ X, con nghĩ sao?
- Thưa cha, chữ X là để hiểu ngầm, cũng giống như toán học vậy. Giả sử cha muốn ám chỉ cho một ai vô danh cao cả thì chữ X dó cũng chỉ cho Đấng Vô Danh đó. (In locum suum).
Cha rất hài lòng về những lời của cậu cựu học viên cắt nghĩa, sau đó cha xin cậu ta cho cha xem con cút. Cậu trả lời cha:
Vâng thưa cha, nếu cha muốn.
Cậu mở bàn tay rồi trao cho cha con chim. Thoạt đầu, nó có vẻ trông rất xinh đẹp.
Cầm con chim, cha dương cánh nó ra để xem thì cha thấy phía dưới đầy những cương mủ xông ra một mùi hôi thối. Cha quay sang hỏi cậu cựu học viên tại sao lại như thế này, thì cậu ta cho cha biết:
Thưa, cha là linh mục, cha đã học Kinh Thánh. Cha không nhớ ra người Do Thái làm gì trong sa mạc sao? Họ kêu trách và ca thán, nên Thiên Chúa đã ban cho họ chim cút để ăn. Được thế, họ ăn đến bội thực, nên một số đông trong dân đã bị Thiên Chúa phạt chết lúc thức ăn còn ngậm đầy trong miệng. Chính vì thế mà chim cút được biểu thị cho tính mê ăn uống. Tính xấu này đã tàn sát nhân loại nhiều hơn là khí giới, và chính nó là nguyên do của một phần lớn các giống tội.
Khi cha đang nói chuyện với người cựu học viên này thì cha thấy một đàn đông đảo chim đa đa và chim cút xà xuống đậu khắp cánh đồng. Thế là các thiếu niên của cha vội vàng bắt lấy. Và chúng ta đã làm một bữa cơm thật thịnh soạn với thịt chim cút và chim đa đa.