35. Bánh xe và lăng kính
1861, MB. VI, 897-916
Giấc mơ này có thể chia làm ba phần:
1. Phần thứ nhất
Giới thiệu nhân vật bí mật cùng với chiếc máy cũng không kém phần bí mật của ông ta. Don Bosco nhìn thấy tất cả các thiếu niên của Nguyện Xá được chia làm hai nhóm: tốt và xấu. Trong số những kẻ xấu, ngài lại phân ra thành nhiều loại:
a. Những kẻ bị trói: là những kẻ sẽ phải vào tù.
b. Những kẻ miệng bị khóa, tai bịt kín: là những kẻ xưng tội cách không nên.
c. Những kẻ có con khỉ trên vai: là những kẻ từ chối lãnh nhận các phép bí tích.
2. Phần thứ hai
Khung cảnh trở nên an ủi Don Bosco hơn: ngài nhận ra các tu sĩ Salêdiêng tương lai trong những chức vụ khác nhau mà họ sẽ đảm nhận. Ngài cũng thấy những người có ơn gọi và cả những người sẽ phải hoàn tục.
3. Phần thứ ba
Don Bosco thấy trước tương lai của Tu Hội theo từng giai đoạn mười năm, cùng với số phận của các con cái ngài tại Nguyện Xá vào năm 1861.
-------------------------
Người bí mật
Cha đang đi trên đường Capriglio, một thị trấn gần Castelnuovo, bỗng nhiên cha thấy một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, da ngăm xạm, với bộ râu dài mượt. Ông mặc một chiếc áo dài với một dải vải thắt ngang lưng chạy dài xuống tới đầu gối, đầu đội một cái mũ trắng. Ông ta thân mật chào cha và hỏi cha:
- Thưa cha, cha đi đâu đấy?
- Tôi đi thăm ruộng của chúng tôi ở gần đây, còn ông làm gì vậy?
- Cha muốn biết tôi làm gì à? Cha tò mò quá.
- Phải đấy, nhưng ông có thể cho tôi biết quí danh, và ông là ai được chứ?
- Biết tên tôi và đức tin của tôi làm gì? Mời cha cứ theo tôi.
Cha đi theo ông ta, và sau một lát, cha đứng trước một cánh đồng trồng vải, và ông nói với cha:
- Quả vả ngon quá, nếu cha thích cha cứ hái.
- Nhưng mùa này vả đâu mà chín.
- Cha xem kỹ đi, cha không thấy sao? Có quả chín mọng rồi. Nếu cha muốn, mời cha hái kẻo trời tối mất. Cha vẫn không động đậy. Ông ta giục thêm:
- Cha hái đi chứ, trời tối rồi.
- Làm sao ông lại hối tôi thế? Vả tôi cũng không thích ăn, tôi chỉ thích ngắm thôi.
- Nếu thế thì chúng ta lên đường. Nhưng xin cha nhớ lời Chúa Giêsu nói với các Tông đồ về những lời đe dọa thành Giêrusalem xưa: các ông hãy học dụ ngôn này về cây vả, khi nào các ông thấy nó đâm chồi nảy lộc, các ông hãy biết rằng mùa hè đã tới. Bây giờ quả vả đã bắt đầu chín nên mùa hè cũng sắp tới rồi.
Vườn nho
Trên đường cha thấy một cánh đồng khác đầy nho, người lạ nói với cha:
- Cha không thích vả, vậy mời cha hái nho.
- Nho à? Mùa này nho đâu đã chín?
- Nhưng cha không thấy nho ở đây đã chín rồi sao?
- Làm sao nho có thể chín vào mùa này được?
- Cha hái đi, tối rồi, đừng mất giờ.
- Tôi xin nói với ông một lần nữa là không việc gì phải vội vã như thế. Tôi còn đủ giờ trở về trường tôi, ông đừng lo.
- Cha cứng đầu thật, cha không thấy trời tối rồi hay sao?
- Ăn thua gì, hết tối rồi lại sáng, có gì mà sợ.
- Không đâu, ngày sẽ không còn trở lại nữa đâu.
- Ông nói gì thế? Thế là tôi sẽ đi vào cõi đời đời ư?
- Thôi đêm rồi, cha không còn nhiều giờ đâu.
- Nhưng xin ông nói cho tôi biết đêm tới rồi sao?
- Cha đừng tò mò quá, đừng biết điều không cần biết.
- Thôi đủ rồi, lúc này tôi không muốn ăn nho chút nào.
Chẳng bao lâu cả hai đến gần cánh đồng. Và ngay khi đó, cha gặp anh của cha; anh Giuse đang chất đồ lên xe. Thấy cha, anh liền ngừng tay và chào hai chúng tôi. Dầu cha hỏi thế nào, người lạ mặt cũng cứ từ chối không nói tên mình, rồi khi anh Giuse tiếp tục làm việc, người lạ mặt bỗng dưng hỏi cha:
- Cha có muốn biết hiện tình của con cái cha, biết tương lai và chúng có bao nhiêu không?
- Muốn lắm chứ. Cha trả lời ngay.
---------------------------------
PHẦN THỨ NHẤT: HIỆN TẠI - NHỮNG KẺ NÔ LỆ SATAN
Bánh xe
Lúc đó ông ta bí mật dẫn cha đến một cái máy lớn mà cha không biết phải tả làm sao: Phần chính máy là một bánh xe có tay quay. Cha hỏi:
- Bánh xe này có nghĩa là gì?
- Ông trả lời cha: sự trường cửu trong tay Thiên Chúa. Rồi ông ta thêm: Đây, cha hãy cầm lấy tay quay, quay đi một vòng rồi nhìn vào trong xem.
Cha làm theo và nhìn thấy ở giữa bánh xe có một thấu kính rộng chừng 1m50, và chung quanh có ghi hàng chữ: "Đây là con mắt thấu nhìn hết mọi sự kín nhiệm trên trời dưới đất". Cha nhìn qua thấu kính và thấy tất cả các thiếu niên ở Nguyện Xá. Vòng thứ hai làm cha thấy một cảnh lạ hơn.
Người lành và kẻ ác
Tất cả các thiếu niên ở đó được chia làm hai nhóm: một bên là các thiếu niên tốt, còn bên kia, một nhóm nhỏ hơn là những kẻ xấu trong tình trạng đáng thương, khác xa với điều mà các bạn chúng thường nghĩ. Trong số những kẻ này, có kẻ lưỡi bị đâm thủng, kẻ khác mắc chứng hủi, nhiều người bị mụn nhọt trên đầu, hoặc bị sâu bọ ăn rỗng tim. Chăm chú nhìn, cha đau khổ kêu lên: “Các con của tôi lại mắc phải những chứng bệnh ghê tởm này sao?”
Người lạ liền giải thích cho cha: “Lưỡi thủng có nghĩa là nói chuyện xấu, bệnh hủi tượng trưng cho sự khinh thường ơn thánh, mụn nhọt trên đầu chỉ sự không vâng lời và chiều theo các tính xấu, sâu bọ là những dục tình xấu ăn rỗng trái tim.
Kẻ bị xích
Theo hiệu của người lạ mặt, cha quay vòng thứ ba, và cha thấy bốn thiếu niên bị xích chặt. Người lạ nói với cha: "Các thiếu niên này không nghe theo lời khuyên của cha. Nếu không sửa đổi tính nết, chúng sẽ bị tù tội lâu ngày để đền bù các sự bất tuân nặng nề của chúng ".
Miệng ngậm và tai bị bịt kín
Cha quay thêm một vòng nữa, lúc này cha thấy các thiếu niên khác có cái nhìn xấc láo và miệng bị bít chặt. Trong số đó cá ba đứa lấy tay bịt tai.
- Nhưng tại sao các thiếu niên ngậm miệng như vậy?
- Đó là những kẻ không chịu nói.
- Chúng giấu điều gì thế?
- Chúng không chịu nói. Lúc đó cha hiểu là điều đó ám chỉ về việc xưng tội. Các thiếu niên này tượng trưng những kẻ được cha giải tội hỏi mà không trả lời hay trả lời không rõ ràng, hoặc còn cả gan giấu sự thật nữa. Cha có thấy ba đứa đang lấy tay bịt tai không? Đó là những kẻ không muốn nghe lời khuyên của cha giải tội. Còn những kẻ khác thì nghe nhưng không thu lượm được ích lợi gì.
- Và chúng phải làm sao để mở miệng ra?
- Chúng phải bỏ tính kiêu căng của cõi lòng.
Rồi ông ta khuyên cha: “Mỗi lần cha giảng, cha hãy nói về việc xưng tội cho nên.” Cha hứa sẽ theo lời ông ta. Cha không muốn nghe theo từng chữ, nhưng cha thường nhắc cho chúng con về sự khẩn thiết của việc xưng tội tử tế. Thực ra, số người xưng tội bị luận phạt đông hơn số người không xưng tội bị luận phạt. Có lẽ mọi người đều xưng tội, đôi khi cả đến kẻ dữ cũng xưng, nhưng số người xưng tội không nên lại rất đông.
Một con khỉ trên vai
Lúc đó người bí mật bảo cha quay một vòng bánh xe nữa, cha làm theo và cha thấy ba thiếu niên, mỗi người vác trên vai một con khỉ dữ tợn có sừng, hai chân trước nó xiết chặt cổ các thiếu niên làm cho ba thiếu niên này phải nhăn nhó mặt mũi, mắt đỏ ngầu và ứa máu ra. Chân sau bóp vào thân thể các thiếu niên, trong khi đuôi quấn lấy chân chúng, không cho bước đi. Đó là những thiếu niên sau tuần phòng linh hồn vẫn còn ở trong tình trạng tội trọng, lỗi đức trong sạch và nhất là thiếu đoan trang, nết na. Lũ quỷ xiết cổ khiến chúng không thốt được lời nào, máu dồn lên mặt làm chúng mất hết trí khôn, để rồi đi đến chỗ mất linh hồn. Mắt chúng lòi ra ngoài tròng, vì thế không thấy được sự khốn nạn của mình và cũng không tìm ra cách nào để thoát khỏi cảnh khốn đốn ấy. Sau cùng, đuôi khỉ làm tê liệt chân chúng, ngăn cản không cho tiến lên con đường cứu rỗi. Thói quen buông theo dục vọng khiến chúng nghĩ rằng mình không thể sửa đổi được.
Cha muốn nhảy bổ lại để giải thoát chúng, nhưng ngoài lăng kính, cha không thấy gì cả. Cha muốn viết tên những thiếu niên ấy, nhưng người lạ mặt nói với cha: “Vô ích, tôi đã viết tên chúng trong sổ này rồi.” Lúc đó tim cha se lại, cha đau đớn kêu lên: “Làm sao các con của tôi, tôi đã khuyên nhủ bao nhiêu lần mà chúng vẫn còn ở trong tình trạng này?”. Rồi cha hỏi người lạ phương cách để cho các thiếu niên này có thể xua đuổi được những con vật bẩn thỉu này. Ông ta nói:
- Labor, sudor, fervor. Ông ta nói nhanh đến nỗi cha chẳng hiểu gì cả.
- Nghĩa là gì thế?
- Làm việc, cần mẫn, hãm mình liên lỉ, cầu nguyện sốt sắng và kiên trì bền bỉ. Nhưng cha không thể hy sinh cho các thiếu niên này được đâu, cha không thể cứu chúng được đâu, vì chúng không muốn thoát khỏi ách của Satan mà chúng bị trói buộc làm nô lệ.
Và khi tiếp tục nhìn, cha phát cáu lên:
- Làm sao tất cả các thiếu niên này lại hư mất sau tuần phòng? …Với tất cả những gì tôi đã làm cho chúng, biết bao khó nhọc … lời chỉ dẫn … lời khuyên bảo … Thật tôi không thể ngờ nổi".
- Người lạ nói với cha: "Cha không thể ngờ nổi, cha thấy đứa kiêu căng này chứ? Nhưng cha là ai mà dám làm cho các thiếu niên này sửa mình được khi cha đã làm việc nhiều cho chúng? Cha yêu mến các thiếu niên và cha tin rằng vậy là đủ để thấy tất cả chúng đáp lại những lo lắng của cha sao? Cha tin rằng lời cha linh nghiệm hay Lời Chúa? Cha dám cả gan so sánh sự lo lắng của cha với sự lo lắng của Chúa cho các Tông đồ Người sao? Chắc cha biết rõ những Tông đồ sống với Người, các ngài đã được tràn trề ân sủng Chúa ban, ngày đêm nghe những nguyên tắc đạo lý của Chúa, và thấy các phép lạ của Chúa. Dẫu vậy, trong cuộc Thương khó, người thì bỏ đi, kẻ thì chối Chúa. Và còn gì Chúa đã không làm cho Giuđa, tên phản Chúa đã chết cách khốn nạn? Còn cha, cha ngạc nhiên khi thấy trong năm trăm thiếu niên, có một số nhỏ không đáp lại những công việc cha đã làm? Thật kiêu căng, nếu cha muốn thu lượm kết quả trọn vẹn".
Cha yên lặng nhưng cha cảm thấy thấm thía và đau lòng. Khi ấy, người lạ mặt lên tiếng:
- Cha hãy bằng lòng với kết quả này.
Khi thấy cha đau khổ quá, người lạ an ủi cha. Đến đây, ông ta ra hiệu cho cha quay một vòng nữa, rồi ông nói thêm: "Thiên Chúa thật quảng đại biết bao, xin cha xem số linh hồn Ngài muốn ban cho cha".
Thật thế, cha nhận ra một đoàn thiếu niên mà cha chưa bao giờ thấy trong đời mình.
- Đó là những kẻ mà Thiên Chúa ban cho cha để cha thay cho mười bốn thiếu niên không đáp lại những khó nhọc của cha. Cứ mỗi thiếu niên này, Chúa ban lại cho cha một trăm thiếu niên khác.
Lúc ấy cha kêu lên:
- Ôi, Chúa ơi, nhà đã đầy người rồi, lấy đâu đủ cho chúng ở nữa?
- Xin cha đừng lo, lúc này chỗ không thiếu đâu. Người đã ban chúng cho cha thì Người cũng cho đủ chỗ để chúng ở.
- Nhưng không phải tôi e ngại vì không có chỗ ở, nhưng là cách nuôi dạy chúng.
- Xin cha đừng lo, Chúa sẽ lo.
- Nếu thật thế, tôi hoàn toàn sung sướng.
Cha sung sướng nhìn đoàn thiếu niên. Hình dáng họ, cha còn nhớ rõ đến nỗi nếu giờ cha gặp họ, cha sẽ nhận ra liền.
------------------------
PHẦN THỨ HAI: TRONG CÁNH ĐỒNG CỦA THIÊN CHÚA
Người lạ mặt vẫn đứng cạnh chiếc máy. Đến giờ đã định, ông ta nói với cha:
- Cha muốn xem một cảnh đẹp không?
- Muốn lắm.
- Cha quay bánh xe đi.
Cha quay và nhìn thấy tất cả các thiếu niên tản mác trong một cánh đồng được chia làm hai dải đất. Một bên được phân ranh bằng nhiều hàng nho dại, rau trồng xen lẫn với cỏ. Ở đó, toán thiếu niên thứ nhất tay cầm cuốc, xẻng, cuốc chim, cào, đang phát đất theo từng đôi một. Hiệp sĩ Aureglia điều khiển toàn bộ công việc, phân phát dụng cụ và đốc thúc những ai không muốn làm việc chăm chỉ.
Phần thứ hai của cánh đồng được ngăn cách với phần thứ nhất bằng một cái hào. Đây là một cánh đồng lúa óng ả đang vào mùa gặt, nơi nhiều thiếu niên đang làm việc: kẻ thì gặt rồi xếp lại thành từng đống lớn, kẻ thì bòn mót, đánh xe, đập lúa, mài liềm hay phát liềm cho thợ gặt, có kẻ lại chơi đàn. Một quang cảnh thật kỳ lạ.
Phần thứ hai của cánh đồng được ngăn cách với phần thứ nhất bằng một cái hào. Đây là một cánh đồng lúa óng ả đang vào mùa gặt và có nhiều thiếu niên làm việc trong cánh đồng này: kẻ thì gặt rồi xếp lại thành từng đống lớn, kẻ thì bòn mót, đánh xe, đập, mài liềm hay phát liềm cho thợ gặt, có kẻ chơi đàn. Một quang cảnh rất kỳ lạ. Dưới bóng những cây lớn, cạnh một khu vườn đầy những luống hoa tuyệt đẹp với đủ màu sắc, là các bàn ăn trưng bày sẵn những món ăn dành cho thợ gặt. Vì muốn biết tường tận bí mật này, cha quay lại phía người lạ mặt và hỏi ông ta:
- Cảnh này có nghĩa là gì, và hai nhóm thợ này tượng trưng cho ai?
- Những người đào đất là những người sống cho riêng mình. Sở dĩ tôi gọi như thế là vì họ tìm kế sinh nhai ngoài thế gian, trong khi những người khác – các thợ gặt – lại lo lắng chu toàn bổn phận của người tu sĩ.
Cha hãy xem cánh đồng lúa này mà lòng cha ao ước tìm hiểu. Provera phân phát liềm cho thợ gặt, ám chỉ rằng ngài có thể sẽ thành cha bề trên chủng viện hay một cộng thể tu trì nào đó. Dầu vậy, không phải mọi thợ gặt đều nhận liềm nơi tay ngài, nhưng chỉ những ai sẽ thuộc về Tu hội thôi. Liềm tượng trưng cho Lời Chúa. Cũng vì thế, ngài không ban liềm cho những ai xin. Ngài truyền cho một số người đi ăn vài miếng, nghĩa là đi trau dồi thêm về đạo đức cũng như trí tuệ. Những người này trở lại cánh rừng nhỏ, nơi có thầy Durando, người được giao nhiệm vụ sửa soạn thức ăn cho thợ gặt. Công tác này chỉ dành cho những ai có khả năng khích lệ một cách đặc biệt lòng sùng kính Thánh Thể.
Costamagna cũng có mặt để nhận một chiếc liềm, nhưng Provera bắt buộc Costamagna đi đến vườn trước để hái ba bông hoa trước khi nhận liềm. Rebuffo cũng thế, phải hái ba bông hoa trước khi nhận liềm. Trong lúc đó, tất cả các thiếu niên khác xếp thành từng toán để gặt, và mỗi người nhận phần gặt to nhỏ khác nhau. Biondini làm việc như một người tù khổ sai, khiến cha thắc mắc không biết Biondini có phải làm việc như thế lâu không. Nhiều kẻ cầm liềm phát mạnh nhưng không cắt được gì; có kẻ dùng liềm cùn, trong khi một vài người dùng liềm sắc nên cắt được dễ dàng. Giữa các thiếu niên ấy, nhiều người cầm một ngọn đèn sáng rực như giữa trưa. Đó là những kẻ nêu gương sáng cho các thợ khác và soi chiếu cho hàng tư giáo. Trong số đó có Don Albera đang đánh đàn; chính ngài sẽ chỉ cho các linh mục con đường phải theo và khích lệ họ trong công việc tông đồ.
Cha còn nhận thấy rải rác đó đây những thiếu niên không có phận sự rõ ràng. Có người cầm một khẩu súng lục: anh ta định gia nhập quân đội, nhưng chưa quyết định chắc chắn. Có kẻ khác thì khoanh tay, chẳng làm gì, chỉ đứng nhìn thợ gặt. Nhiều người muốn gặt nhưng lại sợ mệt; họ chạy đi lấy liềm, nhưng chẳng mấy chốc đã quên mất ý muốn ngay lành ấy, rồi đứng chơi không. Có kẻ lại gặt ngược, chính là những người làm trái ngược với điều mình phải làm. Sau cùng, có cả một đoàn bỏ đi để hái nho dại: đó là những kẻ phung phí thời giờ để thi hành những việc không được giao phó.
Trong khi cha đang mải mê nhìn đoàn thợ gặt làm việc, các thiếu niên trong toán thứ nhất xới đất và cuốc đất. Phần đông làm việc rất có lương tâm, nhưng trong đám đó cũng không thiếu kẻ lười biếng: nhiều người cuốc ngược, có kẻ mỗi lần cuốc thì cán lại sút ra. Cán ở đây tượng trưng cho ý ngay lành. Lúc ấy, cha nhận thấy nhiều thiếu niên hiện là học sinh tập nghề, họ đang gặt, còn phần đông kẻ khác thuộc nhóm học sinh đang xới đất. Cha muốn ghi chú tất cả những điểm ấy, nhưng người lạ luôn đưa cuốn sổ của ông ta ra và không cho cha viết. Cha cũng không nài nỉ thêm, mà tiếp tục quan sát những cánh đồng ruộng tiếp diễn dưới mắt cha. Rất nhiều thiếu niên đứng chơi, chẳng làm gì cả. Họ ước ao được gặt hay xới, nhưng không đủ ý chí để quyết định chọn một trong hai con đường ấy. Vài người từ bỏ toán cuốc đất để nhập đoàn gặt. Có kẻ ngu dại chạy bừa trong cánh đồng lúa, không chịu đi xin một cái liềm. Khi nhận ra sự ngu ngốc của mình, chúng mới lùi lại để xin liềm. Nhưng người phụ trách phát liềm bảo: “Xin anh kiên nhẫn đi ngắt hai bông hoa trong vườn trước đã.” Cách giải quyết này không làm nó hài lòng, nó hất vai đáp: “Có gì chứ hoa thì tôi hái bao nhiêu chẳng được.”
Người phụ trách trả lời: “Không, chỉ hai thôi.”
Nó chạy vào vườn nhưng chợt nhớ ra là quên hỏi hái loại hoa nào, nó chạy trở lại hỏi và người đó bảo nó:
- Anh phải hái hoa bác ái và hoa khiêm nhường.
- Tôi có cả rồi. Hắn gắt gỏng trả lời.
- Anh bảo là có nhưng thực ra anh chưa có đâu.
Và thiếu niên đó đã cãi lại một cách hỗn láo vì tức giận. Khi thấy cảnh này cha bỏ đứng lên khỏi chỗ để đi hỏi người lạ một vài điều thắc mắc, và ông ta giải thích cho cha: "Cánh đồng tượng trưng cho Giáo hội, mùa là kết quả thu lượm, đặc biệt là Lời Chúa, liềm cùn là thiếu đạo đức, liềm không nhọn là thiếu khiêm nhường. Ra khỏi cánh đồng sau khi gặt có nghĩa là ra khỏi Nguyện Xá và Tu Hội ".
--------------------------
PHẦN THỨ BA: THẤY TƯƠNG LAI
Sau khi đã tha hồ xem cảnh gặt, người bạn già dễ thương nói với cha: "Cha hãy quay mười vòng đi ".
Cha quay mười vòng và cha thấy nhiều thiếu niên vừa rồi, hôm qua còn là những thiếu niên trẻ trung, nay đã thành người lớn. Có mấy người râu đã dài, có kẻ tóc đã hoa râm. Cha hỏi:
- Làm sao mà các thiếu niên của tôi lớn nhanh thế?
- Thật đơn giản, cha đã quay mấy vòng?
- Mười vòng.
- Thế thì 61 và 10 là 71. Họ thêm mười tuổi.
Và lúc đó cha thấy những cảnh lạ, những mùa gặt mới thuộc về chúng ta, và nhiều học sinh còn trẻ dưới quyền điều khiển của các thiếu niên ở Nguyện Xá khi xưa, nay đã trở thành linh mục, giáo sư, giám đốc để dạy dỗ và giúp chúng giải trí. Người lạ nói:
- Xin cha quay thêm mười vòng nữa, và chúng ta tới năm 1881.
Bánh xe quay, cha nhìn và thấy chừng một nửa số thiếu niên lần trước tiên, tóc hầu như hoa râm hết, và vài người lưng đã còng. Cha hỏi:
- Còn các thiếu niên kia đâu?
- Họ qua thế giới bên kia rồi.
Mất nhiều trẻ khiến cha thấy buồn, nhưng cha cảm thấy an ủi khi xuất hiện nhiều xứ sở mới lạ, những vùng đất mới, và một toán đông trẻ dưới quyền điều khiển của những thầy mới, dưới quyền các thiếu niên xưa mà nay tuổi đã cao. Quay thêm mười vòng nữa, cha chỉ thấy chừng một phần ba các học sinh của cha. Trong số đó cha còn nhớ đã thấy Don Rua, nhưng ngài đã già và gầy đến nỗi mãi một lúc lâu cha mới nhận ra được, lúc ấy là vào năm 1901. Và bây giờ, mười vòng nữa sẽ làm cha sung sướng nhưng cũng đau đớn không kém. Mười vòng, và đây là năm 1911. Ôi các con yêu dấu của cha, cha thấy những ngôi nhà mới, những người mới, các vị giám đốc và thầy dạy mới. Cha tìm mãi trong số các trẻ mới thì chỉ thấy có một người trong các con: Blanchi, lúc này đã già lắm rồi, một toán trẻ vây quanh ngài. Blanchi kể cho toán trẻ nghe thời kỳ phôi thai của Tu Hội, vừa nói vừa chỉ tấm ảnh treo trên tường giảng đường, ngài kể lại cho chúng nghe những điều Don Bosco đã dạy bảo.
Theo hiệu của người lạ, cha cầm lấy tay quay và quay nhiều vòng nữa: cha chỉ thấy một khoảng trống không người. Cha ngạc nhiên và kêu lên: "Tôi chẳng thấy ai nữa cả, các thiếu niên trong Nguyện Xá của tôi đâu cả rồi?". "Họ đã sang thế giới bên kia rồi ".
Cha hiểu rằng, vào khoảng năm 1911, tất cả các thiếu niên bây giờ đang ở Nguyện Xá sẽ qua đời hết. Người lạ hỏi cha:
- Cha có muốn xem một vài điều kinh ngạc không?
- Có. Cha trả lời.
- Vậy cha hãy để ý, cha hãy quay bánh xe lại cho đủ số vòng cha đã quay. Bánh xe quay … "Bây giờ cha nhìn xem".
Cha nhìn và cha thấy trước mắt mình các bề trên, các giám đốc, các thầy và các hộ trực viên, một đám đông thuộc nhiều quốc gia khác nhau. Mặc dù cố gắng, cha cũng chỉ nhận ra được một phần rất nhỏ. Cha kêu lớn tiếng: “Các em này tôi chưa biết.”
- Dầu vậy, đó là các con của cha, xin cha hãy nghe chúng, chúng đang nói về cha, về các người con cũ của cha, cũng như các bề trên đã qua đời, và nhắc nhở cho nhau nghe các lời dạy bảo của cha.
Cha chú ý một lần nữa, nhưng khi cha vừa ngẩng đầu ra, thì tự động bánh xe bắt đầu quay rất nhanh đến nỗi tiếng kêu làm cha giật mình tỉnh dậy. Cha nằm trên giường lả đi vì mệt.
Cha chú ý một lần nữa, nhưng khi vừa ngẩng đầu lên thì bánh xe bắt đầu tự động quay rất nhanh, đến nỗi phát ra tiếng kêu lớn làm cha giật mình tỉnh dậy. Cha nằm trên giường, lả đi vì mệt.